Showing posts with label doc truyen ma hay the gioi ma. Show all posts
Showing posts with label doc truyen ma hay the gioi ma. Show all posts

Monday, 2 June 2014

[ Đọc truyện ma ] Chuyến xe lửa tốc hành lúc 4 h 15 Phút ( 8 )

Câu chuyện mà tôi sắp kể đây xảy ra khoảng chín, mười năm trước, lúc đó Sebastopol đã đầu hàng vào đầu mùa xuân, hòa bình của Paris đã được lập lại từ tháng ba và quan hệ thương mại của chúng tôi với đế quốc Nga cũng vừa mới lập lại. Trở về quê nhà sau chuyến đi miền bắc đầu tiên từ khi chiến tranh, tôi rất hài lòng với viễn ảnh được qua tháng 12 dưới mái nhà hiếu khách của người bạn cao quý của tôi là Jonathan Jeff ở Dumbleton, làng Clayborough miền đông tỉnh Anglia, dùng phương tiện chuyên chở của một hãng nổi tiếng mà trong đó tôi cũng có chút phần hùn.
Tôi đã được mời đi thăm thủ đô Nga và Ba Lan và nhận thấy cũng cần thiết phải qua một thời gian quan sát các hải cảng thương mại dọc vùng biển Baltic. Vì vậy hơn một năm trôi qua trước khi tôi lại đặt chân về đất Anh và thay vì được săn bắn chim trĩ cùng bạn mình vào tháng 10 như tôi đã dự định tôi trở thành khách của anh vào mùa Giáng Sinh.
Về đến Anh quốc, sau vài ngày bận lo công chuyện ở Liverpool và London, tôi vội vã về Clayborough lòng rộn rã như một cậu học sinh sắp được nghỉ lễ. Tôi đi bằng đường hỏa xa Đông Anglia đến ga Clayborough, tại đó tôi sẽ sang xe ngựa đi Dumbleton 9 dặm đường còn lại.
Hôm đó là một buổi chiều đầy sương mù và khá ấm áp so với một ngày đầu tháng 12 (4 tây tháng 12). Tôi đã thu xếp để rời London bằng chuyến tốc hành 4 giờ 15. Trời mùa đông tối sớm và đèn trong các toa xe đã được thắp lên. Sương mù ẩm ướt làm mờ các cửa kính, bám vào các tay nắm cửa và tràn ngập trong không gian. Bên gian hàng sách kế cận ngọn đèn gas tỏa ánh sáng chói chan khiến càng nổi bật vẽ mù mờ của nhà ga. Tôi đến sớm trước giờ khởi hành bảy phút và qua sự giúp đở của người soát vé tôi chọn được một toa trống cho riêng mình. Tôi thắp đèn mang theo của mình lên rồi ngồi xuống thoải mái thưởng thức một điếu xi-gà và một quyển sách. Vì vậy tôi rất đổi thất vọng khi vào phút cuối một người đàn ông vẽ vội vã liếc nhìn vào toa tôi ngồi rồi dùng chìa khóa riêng mở cửa bước vào.
Ngay cái nhìn đầu tiên tôi nghĩ rằng mình đã gặp ông rồi. Đó là một người cao, môi mỏng, mắt màu nhạt, mảnh khảnh với đôi vai hơi lệch, mái tóc muối tiêu để dài chấm cổ. Ông mang trên tay một áo khoác nhẹ, một cây dù và một hộp lớn màu nâu của Nhật để đựng chứng thư mà ông đặt xuống bên dưới chổ ngồi. Xong, ông dò dẩm túi áo ngực kỹ lưỡng như thể xem chắc bóp tiền và sổ tay còn đủ không, rồi ông đặt cây dù lên giá để hành lý trên đầu, trải áo khoác lên hai đầu gối, thay cái nón đang đội bằng nón đi đường hàng Tô Cách Lan. Vừa lúc đó xe lửa rời ga trong ánh hoàng hôn xám nhạt lạnh lẽo.
Bây giờ thì tôi đã nhận ra người bạn đồng hành của mình. Tôi nhận ra ông ngay khi ông dỡ nón để lộ cặp chân mày nhỏ, rậm với những nếp nhăn. Tôi nhớ rõ dã gặp ông cách đây ba năm tại ngôi nhà tôi sắp đến mà có lẽ ông cũng thế. Tên ông là Dwerrihouse, là một luật sư và nếu tôi không lầm thì ông là anh họ của vợ bạn tôi. Tôi cũng biết rằng ông là người khá giả, có tài. Gia đình Jeff tiếp đón ông theo đúng phép lịch sự dành cho những thân nhân giàu có. Đám trẽ rất thích ông và người quản gia già gọi ông là “đại tướng” với lòng kính trọng. Quan sát ông dưới ánh đèn và ánh hoàng hôn hòa lẩn, tôi nghĩ sao ông anh họ bà Jeff chỉ mới qua ba năm mà trông đã già cỗi, khô khan thế. Trông ông tái nhợt và ánh mắt thất thần khác xa khi xưa. Những nếp nhăn quanh miệng sâu hẳn đi, hai gò má và thái dương lõm vào cho thấy vẽ bệnh hoạn và buồn sầu. Lúc mới bước vào ông đã liếc nhìn tôi nhưng không có vẽ gì nhận ra tôi. Bây giờ thì ông lại liếc nhìn vẽ hơi bợ ngợ. Khi ông liếc nhìn lần thứ ba hay tư gì đó, tôi đánh bạo lên tiếng:
-Thưa, ông là John Dwerrihouse?
-Vâng, đó là tên tôi. Ông đáp.
-Tôi đã hân hạnh được gặp ông ba năm về trước tại Dumbleton.
-Tôi thấy anh hơi quen nhưng rất tiếc tôi không nhớ tên.
-Tôi là William Langford. Tôi dã quen biết Jonathan Jeff từ khi chúng tôi còn nhỏ. Tôi thường đến Dumbleton chơi ít tuần vào mùa săn bắn. Chắc ông cũng trên đường đến đó?
-Không, tôi đi lo công việc. Chuyện có hơi rắc rối. Còn anh hẳn là đến đó để vui chơi.
-Vâng, tôi xem chuyến viếng thăm này là ba tuần tươi sáng nhất của tôi trong suốt năm.
-Gia đình đó rất thú vị. Ông nói.
-Vâng, gia đình thú vị nhất mà tôi được biết.
-Jeff rất hiếu khách.
-Vâng, một người tử tế nhất.
Sau một lúc yên lặng, ông nói tiếp:
-Họ đã mời tôi đến chơi vào tuần lễ Giáng Sinh.
-Và ông có định đến không?
-Không biết được, còn tùy vào công việc của tôi. Chắc anh có nghe nói công ty chúng tôi sắp thiết lập một đường hỏa xa từ Blackwater đến Stockbridge?
Tôi giải thích rằng mình đã vắng mặt một thời gian ở nước ngoài nên không biết điều đó.
Ông cười tự mãn.
-Đó sẽ là một cải tiến lớn lao. Stockbridge là một tỉnh đang vươn lên cần có một đường rầy trực tiếp nối liền với thành phố lớn để trở nên một trung tâm thương mại quan trọng. Đường rầy này là ý kiến của tôi. Tôi đã trình bày trước hội đồng và tự mình trông coi việc xây dựng.
-Tôi đoán ông là một giám đốc trong công ty Đông Anglian?
-Tôi có mức lời gấp ba trong công ty. Tôi là một giám đốc và là người có cổ phần đáng kể. Tôi cũng là chủ hãng Dwerrihouse & Craik và là luật sư chính của công ty.
Đầy tự mãn về dự tính của mình, ông nói huyên thuyên hầu như không còn biết nói gì khác hơn là việc đó. Ông nói đến sự chống đối ông đã gặp phải, đến những khó khăn ông đã khắc phục được trong việc mở đường hỏa xa đi Stockbridge. Nhờ vậy tôi được biết đến những chi tiết và các rắc rối địa phương. Sự tham lam của địa chủ này và kém thực tế của địa chủ kia. Sự tức giận của vị mục sư có đất bị đe dọa, sự dửng dưng đáng trách của dân tỉnh Stockbridge, không chịu hiểu rằng quyền lợi thiết yếu của họ dựa vào việc thiết lập đường hỏa xa của hãng Đông Anglian. Ông nói đến sự thù hằn của báo chí địa phương. Tất cả những điều đó làm cho ông bạn đồng hành của tôi vô cùng phấn khích nhưng chẳng đem lại chút thích thú nào cho tôi cả. Khổ thay ông lại cứ tiếp tục nói đến những vấn đề phức tạp hơn nữa, đến phí tổn ước lượng từng dặm đường, đến những ước lượng do các nhà thầu khác nhau gửi đến, và cứ thế nói mãi cho tới khi đầu tôi nhức nhối và mắt tôi cứ khép lại mặc dầu tôi đã rất cố gắng giữ cho khỏi ngủ gục. Cuối cùng tôi sực tỉnh khi nghe ông nói:
-75.000 bảng Anh tiền mặt.
-75.000 bảng Anh tiền mặt à? Thật là một số tiền lớn! Tôi lặp lại bằng một giọng sống động.
-Vâng, một số tiền lớn. Ông đáp vừa chỉ vào túi áo ngực.
- Nhưng chỉ là một số tiền nhỏ so với con số tối hậu mà chúng tôi phải trả.
-Ông mang theo 75.000 tiền mặt trong người à? Ông không nói giỡn chứ?
-Anh bạn, tôi đã nói với anh như thế cả nửa giờ đồng hồ rồi. Số tiền này tôi sẽ phải trả vào lúc 8g30 tối nay tại văn phòng luật sư của ngài Thomas để hoàn tất giấy tờ mua bán.
-Nhưng làm sao ông có thể đi đêm từ Blackwater đến Stockbridge được với số tiền 75.000 bảng trong túi?
-Đến Stockbridge à? Vậy là từ nãy giờ anh không hiểu gì cả. Tôi đã giải thích là số tiền này chỉ trả được đoạn đường đến Mallingford, đây là giai đoạn đầu vì đoạn đường của chúng tôi từ Blackwater đến Mallingford nằm hoàn toàn trên đất của ngài Thomas.
Tôi lắp bắp.
-Xin lổi ông, có lẽ tôi bận suy nghĩ. Vậy là tối nay ông chỉ đến Mallingford thôi à?
-Đúng vậy. Tôi sẽ đi xe của đội bảo vệ Blackwater, còn anh đi bằng gì?
-À, Jeff sẽ cho xe ngựa đến đón tôi ở Clayborough. Ông có muốn nhắn gì với vợ chồng Jeff không?
-Anh nói dùm là tôi rất muốn đi cùng với anh, nhưng nếu có thể tôi sẽ đến thăm trước Giáng Sinh.
-Ông không nhắn thêm gì sao?
Ông Dwerrihouse mỉm cười.
-Anh nói với cô em họ của tôi là cô ấy không cần phải đốt cháy cả dãy hành lang để chào đón tôi lần tới. Anh nói thêm là tôi sẽ rất cám ơn nếu cô ấy cho quét sạch ống khói lò sưởi của căn phòng xanh trước khi tôi đến.
-Ông nói nghe buồn cười quá, chắc trong chuyến viếng thăm lần trước ông đã gặp phải hỏa hoạn chứ gì?
-Cũng gần như thế. Số là lò sưởi trong phòng ngủ của tôi đã ngưng đốt từ hồi mùa xuân nên ống dẫn hơi nóng bị bẩn và bồ hóng đóng đầy trong đó, vì vậy khi tôi lên phòng để thay đồ dự bữa ăn tối thì thấy phòng đầy khói và ống khói thì phựt lửa. Chúng ta đã đến Blackwater rồi sao?
Trong lúc ông nói chuyện thì xe lửa dần dần chậm lại, ló đầu ra cửa sổ tôi có thể thấy được nhà ga ở cách vài chục mét. Có một xe lửa nằm phía trước làm cản đường chúng tôi và người soát vé lợi dụng dịp đình trệ này để kiểm tra vé đi Blackwater. Tôi chưa kịp ngồi ngay lại thì bộ mặt đỏ gay của người soát vé đã xuất hiện ở cửa toa. Anh ta nói:
-Ông cho xem vé.
-Tôi đi Clayborough. Tôi đáp vừa đưa ra cái thẻ màu hồng nhỏ nhắn của mình.
Anh ta cầm lấy, liếc nhìn dưới ánh đèn lồng nhỏ cầm nơi tay rồi trao trả lại. Xong anh ta quay nhìn hướng người bạn đồng hành của tôi rồi đi ra. Tôi nói với vẽ ngạc nhiên.
-Anh ta không hỏi vé của ông.
-Họ không bao giờ hỏi, mọi người đều biết tôi và tất nhiên là tôi đi không tốn tiền.
“Blackwater đây, Blackwater đây”, người phu khuân vác vừa la vừa chạy theo bên hông xe lửa khi xe vào ga.
Ông Dwerrihouse kéo hộp đựng chứng thư ra, bỏ nón đi đường vào túi áo, đội lại nón, lấy cây dù xuống và chuẩn bị xuống xe. Ông nói với vẽ lịch sự cổ điển.
-Cám ơn nhiều lắm ông Langford. Chúc ông một buổi tối vui vẻ.
-Chào ông. Tôi đáp và chìa tay ra, nhưng hoặc là ông không thấy hoặc không muốn thấy, ông chỉ khẻ nhấc nón và bước xuống xe. Ông đi chậm rãi hòa lẫn giữa đám đông đang rời ga.
Chồm ra cửa sổ để nhìn ông đang rời xa tôi đạp nhằm một vật và nhận ra đó là một hộp đựng xi-gà. Có lẽ nó đã rơi ra từ túi áo khoác của ông Dwerrihouse, nó được làm bằng da màu sẩm, bên hông có những chữ cái bằng bạc. Tôi nhảy vội ra khỏi toa vừa lúc người soát vé đến nơi chặn tôi lại. Tôi nóng nảy hỏi:
-Anh cho tôi một phút được không? Người đi cùng toa với tôi làm rớt hộp xi-gà này. Ông ta chưa ra khỏi ga đâu.
-Thưa ông, chỉ còn một phút rưởi nữa thôi, ông phải nhanh lên mới được.
Tôi chạy thật nhanh trên sân ga. Đây là một sân ga rất rộng và vào lúc này ông Dwerrihouse đã đi được hơn nửa sân ga.
Tuy nhiên tôi thấy rõ ràng ông đang đi chậm rãi giữa giòng người. Khi đến gần tôi thấy ông đã gặp một người bạn. Hai người vừa đi vừa nói chuyện, sau cùng họ tách khỏi đám đông đứng sang một bên bàn chuyện rất hăng hái. Tôi đi thẳng về phía họ. Nơi họ đứng có một ngọn đèn gas ngay phía trên đầu tỏa ánh sáng soi rõ mặt cả hai. Tôi thấy họ thật rõ, mặt của ông Dwerrihouse và mặt người bạn của ông. Tôi chạy nhanh nín thở bá vào hành khách và phu khuân vác lòng lo lắng sợ trễ tàu, tuy vậy tôi vẫn nhận thấy người bạn của ông còn trẻ và thấp hơn ông, tóc màu vàng nhạt, có râu mép, nét mặt nhỏ nhắn và mặc một bộ đồ cắt sát bằng hàng nỉ Tô Cách Lan. Chỉ còn cách họ một vài mét tôi đụng phải một ông mập bự và xém bị một xe đẩy hành lý tông phải, rồi vấp phải một túi đựng thảm và đến nơi vừa lúc tiếng còi báo hiệu xe lửa sắp rời ga.
Họ không còn đó nữa, tôi quá đổi ngạc nhiên vì chỉ cách hai giây trước đó tôi còn trông thấy họ, vậy mà họ đã đi rồi. Tôi đứng yên nhìn sang phải sang trái, không thấy bóng dáng họ ở phía nào cả. Như thể sân ga đã nứt ra và nuốt chửng họ. Tôi hỏi một phu khuân vác đứng bên cạnh.
-Có hai ông vừa mới đứng đây, anh có thấy họ đi hướng nào không?
-Thưa ông, tôi không thấy ai cả. Anh ta đáp.
Còi tàu lại rít lên, người soát vé ở mãi đằng xa giơ cao tay lên và thét gọi tôi trở lại tàu. Người phu khuân vác nói.
-Nếu ông còn đi tiếp bằng chuyến tàu này thì ông phải chạy nhanh lên.
Và tôi đã chạy thục mạng, nhảy lên toa vừa lúc xe lửa chuyển động. Người soát vé đẩy tôi vào và tôi thấy mình ngồi thở dốc, bàng hoàng, hộp xi-gà của ông Dwerrihouse vẫn còn nằm trong tay.
Đây là một vụ biến mất kỳ lạ nhất, giống như trò biến hình trong một vở kịch câm. Trong một giây họ hiện diện tại đó bằng xương bằng thịt, nói chuyện với ánh đèn tỏa sáng trên mặt, giây sau họ đã biến mất. Không có cửa nào ở gần đó cả, không cửa sổ cũng không bậc thang. Đó là một khoảnh đất trống trải chung quanh có những bảng quảng cáo lớn. Còn chuyện nào bí ẩn hơn không?!?
Chuyện không đáng phải suy nghĩ, vậy mà suốt đời tôi tôi không thể nào không suy nghĩ, không thắc mắc, đắn đo được, cứ moi óc để tìm một giải đáp cho điều bí ẩn đó. Suốt trên đường từ Blackwater đến Clayborough tôi cứ nghĩ đến điều đó. Ngay cả khi ngồi trên cổ xe do một con ngựa đen kéo trên đường lộ nhẳn bóng với người đánh xe ít nói và giỏi nhất của Đông Anglian tôi cũng không sao ngừng thắc mắc.
Chúng tôi vượt chín dặm đường không đầy một tiếng đồng hồ và dừng lại trước cổng ra vào khi đồng hồ ở nhà thờ gõ 7g30. Chỉ ít phút sau thì ánh sáng ấm áp từ hành lang thắp sáng đã rọi trên lối đi trải sỏi, một bàn tay thân ái nắm lấy tay tôi và một giọng nói vui vẻ, rõ ràng cất lên.
-Chào mừng anh đến Dumbleton.
Sau khi chào hỏi, bạn tôi nói tiếp.
-Bạn thân, bây giờ anh không có thì giờ để rình rang đâu nhé. Chúng ta sẽ ăn lúc 8g và có vài người đến để gặp anh, vì vậy anh phải thay đồ nhanh lên mới được. Tiện đây tôi nói anh biết là anh sẽ gặp vài người quen. Ông bà Biddulph sắp đến và ông bà Prendergast ở Skirmishers đang lưu lại nhà tôi. Bà nhà tôi đang chờ anh ở phòng khách.
Tôi được dẫn đến phòng của mình, không phải căn phòng xanh ông Dwerrihouse đã nhắc đến mà là một căn phòng nhỏ xinh xắn dành cho người độc thân, có màn treo bằng vải hoa thanh nhã và trông vui tươi nhờ ánh lửa bập bùng từ lò sưởi hắt ra. Tôi mở khóa vali và cố làm cho nhanh chóng nhưng trí óc tôi cứ bị ám ảnh về sự kiện xảy ra trên sân ga. Tôi không thể nào quên được. Nó cản trở tôi, làm tôi lo lắng, làm tôi rối loạn và khiến tôi cài lộn nút măng-sết, thắt sai cà vạt và làm sút nút găng tay. Tệ hơn hết nó làm tôi trễ nải đến nỗi mọi người đã có mặt đông đủ trước khi tôi đến được phòng khách. Tôi chỉ vừa kịp chào hỏi bà Jeff thì buổi tiệc đã bắt đầu và chúng tôi từng cặp, 8 hoặc 10 cặp đi vào phòng ăn.
Tôi sẽ không tả ra đây về quan khách và buổi tiệc vì các buổi tiệc tùng ở tỉnh đều giống nhau. Cũng với sự hiện diện của ông bà Nam tước và các ông bà mục sư, lại cũng món gà tây và thịt nai. “Vanitas vanitatum-chẳng có gì mới lạ dưới ánh mặt trời cả! ”
Tôi được xếp ngồi ở khoảng giữa bàn. Lúc vào dự tiệc tôi đã đi cặp với bà vợ của một mục sư và bây giờ ngồi bên trái tôi là một bà nữa. Cả hai bà nói chuyện với nhau ngang qua tôi và câu chuyện của họ chỉ xoay quanh về các em bé. Thật là nhàm chán! Sau cùng là một khoảng yên lặng, các món khai vị được dọn đi và món gà tây quay được mang ra. Các câu chuyện trong phòng tiệc đã tẻ nhạt ngay từ đầu, lúc này lại như ngưng đọng. Jeff đang cắt thịt gà tây còn bà Jeff thì như cố tìm một điều gì để nói. Những người khác đều yên lặng. Bỗng nhiên tôi cao hứng muốn kể lại sự kiện đã xảy ra. Tôi cất tiếng.
-Jeff, anh biết không, trên đường tới đây tôi đã đi chung một phần đường với một người bạn của anh đấy.
-Vậy à. Ai thế? Jeff hỏi vừa cho dao lướt nhẹ vào ức gà.
-Ông ấy nhờ tôi nhắn với anh là nếu có thể ông ấy sẽ đến thăm anh trước Giáng Sinh.
-Tôi không nghĩ ra là ai cả. Bạn tôi mỉm cười đáp.
-Chắc là thiếu tá Thorp chứ gì? Bà Jeff đoán. Tôi lắc đầu.
-Không phải thiếu tá Thorp mà là một người bà con của chị đấy.
-Vậy là tôi càng không nghĩ ra nữa, ai thế Mike? Bà Jeff hỏi.
-Còn ai khác hơn là anh họ của chị, ông Dwerrihouse.
Jeff đặt dao và nĩa xuống. Bà Jeff nhìn tôi vẽ kinh ngạc một cách kỳ lạ nhưng không nói một lời nào.
-Và ông ấy nhờ tôi nhắn với chị là chị không phải đốt cả dãy hành lang để chào đón ông ấy nữa, mà chỉ cần cho người quét sạch ống khói lò sưởi của căn phòng xanh trước khi ông ấy tới.
Trước khi dứt câu tôi nhận thấy có gì không ổn trên nét mặt của các vị khách. Tôi cảm thấy như mình đã nói một điều mà đáng lẽ không nên nói ra và nhận thấy bởi một lý do nào đó lời nói cùa tôi đã gây nên một sự kinh ngạc chung trong phòng. Tôi ngồi bối rối không dám nói thêm gì nữa. Cả phòng hoàn toàn im lặng trong ít nhất là hai phút rồi đại úy Prendergast phá tan sự nặng nề.
-Anh Langford, nghe nói anh đã ở nước ngoài mấy tháng. Anh đã sang Nga phải không? Chắc anh có thể kể cho chúng tôi nghe vài điều về quốc gia đó sau chiến tranh chứ?
Tôi rất cảm kích việc ông bạn này đã giúp tôi ra khỏi thế kẹt. Tôi trả lời không được tự nhiên lắm nhưng ông vẫn tiếp tục cuộc đối thoại và chẳng mấy chốc một vài người khác cũng tham dự vào, nhờ vậy không khí bớt căng thẳng nhưng vẫn chưa tự nhiên, vẫn còn một chút gì gượng ép, khó chịu. Lúc nãy khách khứa đã có vẽ uể oải nhưng bây giờ thì rõ ràng là họ mất tự nhiên và bối rối.
Món tráng miệng chưa dọn khỏi bàn thì các bà đã đứng lên rời phòng tiệc. Tôi nhân dịp này chọn một ghế trống cạnh đại úy Prendergast. Tôi thì thầm.
-Trời đất, chuyện gì thế? Tôi đã nói gì đến nổi?
-Anh đã nhắc đến tên John Dwerrihouse.
-Thế thì đã sao? Tôi gặp ông ấy cách đây không đầy hai giờ đồng hồ mà.
-Nếu anh đã gặp ông ta thì đó là một sự trùng hợp kỳ lạ nhất. Anh có chắc đúng là ông ta không? Đại úy Prendergast hỏi.
-Chắc lắm. Chúng tôi nói chuyện với nhau suốt trên đường từ London đến Blackwater mà. Nhưng sao điều này lại làm ông ngạc nhiên thế?
Bằng một giọng thật thấp, đại úy Prendergast đáp:
-Bời vì John Dwerrihouse đã tẩu thoát với 75.000 bảng Anh tiền của công ty cách nay ba tháng và từ đó đến nay không ai nghe hay thấy ông ta đâu cả.
John Dwerrihouse đã tẩu thoát ba tháng trước đây, vậy mà tôi đã gặp ông cách đây chỉ vài giờ. Ông đã thụt két 75.000 bảng Anh tiền của công ty và đã nói với tôi là mang số tiền đó trong người. Sao các sự kiện lại khác biệt kỳ cục như thế? Sao ông lại dám lộ diện dọc đường hỏa xa chứ? Hơn nữa ông đã làm gì suốt ba tháng đó?
Những câu hỏi trên nảy sinh ngay trong đầu mọi người liên hệ nhưng chẳng đem lại được một kết luận nào. Tôi cũng chẳng tìm được lời giải nào cho các câu hỏi đó cả. Dại úy Prendergast cũng không đưa ra được đề nghị nào. Còn Jeff thì ngay khi có dịp đã kéo tôi sang một bên bảo tôi kể lại hết tất cả và anh còn kinh ngạc hơn cả chúng tôi nữa.
Đêm hôm đó khi quan khách đã ra về hết, anh đến phòng tôi và chúng tôi đã bàn cãi việc đó đủ mọi phương diện, nhưng thú thật, chúng tôi chẳng đưa ra được một kết luận nào hết. Jeff nói:
-Tôi không hỏi xem anh có nhìn lầm không vì điều đó chắc không thể.
-Cũng giống như tôi không thể nhìn lầm một người lạ ra anh được.
-Đây không phải là vấn đề gương mặt hay giọng nói mà là những sự kiện rõ ràng.Việc anh ấy đê cập đến vụ cháy ở căn phòng xanh đã chứng tỏ anh ấy chính là John Dwerrihouse. Anh thấy anh ấy thế nào? Jeff hỏi.
-Tôi thấy ông ấy già hơn, xanh xao hơn, vẽ lo lắng nhiều hơn.
Bạn tôi nói vẽ buồn bã:
-Hẳn là anh ấy phải lo lắng rồi dầu có tội hay vô tội.
-Tôi tin là ông ấy vô tội vì ông ấy không hề tỏ ra bối rối khi tôi chào hỏi và chẳng có vẽ gì lo sợ khi người soát vé vào toa. Ông ấy nói chuyện có hơi quá lố, kể ra hết những công việc làm ăn một cách tự nhiên.
-Điều đó kể cũng lạ vì anh ấy rất kín đáo trong những vấn đề như thế. Anh ấy nói rõ với anh là có đem theo 75.000 bảng trong túi à?
-Phải.
-Hừ, vợ tôi có ý kiến về chuyện đó. Không chừng cô ấy nói đúng….
-Ý kiến gì thế?
-À, anh cũng biết đàn bà thì hay khôn khéo trong việc đặt mình vào chuyện của người khác. Cô ấy nghĩ rằng anh ấy đã thực sự lấy số tiền đó và đã trốn suốt ba tháng ở một vùng hoang dã nào đó của miền quê, cố gắng chống chọi với lương tâm của mình, không dám tẩu thoát với số tiền đánh cắp mà cũng không dám trở về với số tiền đó.
-Nhưng bây giờ ông ấy đã trở về thì sao?
-Đó mới là vấn đề. Vợ tôi nghĩ rằng có lẽ anh ấy đã trở về xin công ty tha thứ và đã hoàn trả lại số tiền, và sau khi được tha thứ đã được cho phép tiếp tục công việc như không có chuyện gì xảy ra.
Tôi nói: -Đó là trường hợp không thể xảy ra được. Đúng là chị Jeff suy nghĩ như một phụ nữ đại lượng chứ hội đồng giám đốc một công ty hỏa xa lớn không suy nghĩ như vậy đâu. Họ sẽ không tha thứ một chuyện như vậy.
-Đúng thế. Dẫu sao đó là lập luận duy nhất có thể nghĩ ra. Tuy nhiên ngày mai chúng ta sẽ đi Clayborough xem có biết được thêm gì không. Prendergast nói là anh có lượm được hộp xi-gà của anh ấy?
-Vâng, đây này.
Jeff cầm hộp xi-gà xem xét dưới ánh đèn và nói ngay rằng đó chính là của Dwerrihouse không nghi ngờ gì cả. Jeff nhớ đã trông thấy ông ấy dùng nó. Anh nói thêm:
-Đây này, những chữ tên của anh ấy bên hông hộp, một chữ J lớn quyện với chữ D. Anh ấy cũng in những chữ này trên giấy viết thư của mình.
-Vậy đây là bằng chứng tôi không nằm mơ.
-Phải, nhưng bây giờ đã đến giờ anh đi ngủ và nằm mơ rồi. Tôi xin lổi đã giữ anh thức khuya thế này. Chúc ngủ ngon.
-Chúc anh cũng thế và nhớ tôi rất sẵn sàng đi với anh tới Clayborough hoặc Blackwater, hoặc London hay bất cứ nơi nào nếu tôi có thể giúp được anh.
-Cám ơn nhiều. Tôi biết là anh sẽ giúp tôi. Một lần nữa chúc ngủ ngon nhé.
8g30 sáng hôm sau chúng tôi gặp lại tại buổi điểm tâm. Một buổi ăn vội vã trong im lặng. Chúng tôi không ai ngủ ngon cả vì mãi bận nghĩ đến chuyện đó. Hiển nhiên là bà Jeff đã khóc suốt đêm, còn Jeff thì nôn nóng muốn đi ngay. Đại úy Prendergast và tôi cảm thấy mình là kẻ ngoài cuộc bị lôi cuốn ngoài ý muốn vào một vụ rắc rối gia đình. Chỉ trong vòng 20 phút sau khi dùng điểm tâm, xe ngựa được mang đến và tôi cùng Jeff lên đường đến Clayborough.
Trong khi xe chạy nhanh trên đường lạnh lẽo, Jeff bảo tôi:
-Langford này, tôi không muốn mang tên Dwerrihouse ra hỏi ở Clayborough. Các viên chức ở đó đều biết anh ấy là anh họ của vợ tôi và chuyện anh ấy làm là một việc xấu hổ, nếu anh không phiền, tôi muốn mình đi chuyến 11g10 đến Blackwater được không? Đó là một nhà ga quan trọng và chúng ta sẽ dễ hỏi tin tức hơn ở Clayborough.
Thế là chúng tôi đi chuyến 11g10, cũng là chuyến tốc hành. Đến Blackwater khoảng 12g kém 15, chúng tôi tiến hành ngay việc dọ hỏi của mình.
Chúng tôi xin gặp ông xếp ga, một người to con, cục mịch. Ông ta nói ngay rằng rất biết rõ John Dwerrihouse, rằng chưa có một giám đốc nào trong công ty mà ông ta lại thường xuyên gặp gỡ và nói chuyện như với Dwerrihouse. Ông ta nói:
-Cách nay ba tháng ông ta thường hay xuống đây một tuần hai, ba lần lúc đường hỏa xa mới bắt đầu xúc tiến, nhưng từ đó đến nay thì chắc các ông cũng biết…. Ông ta dừng nói một cách đầy ý nghĩa.
Jeff đỏ tía mặt vội vã nói:
-Vâng, chúng tôi biết chuyện đó. Vấn đề bây giờ là chúng tôi muốn biết xem gần đây có ai gặp hoặc nghe nói đến ông ấy không?
-Điều này tôi không được biết. Ông xếp ga đáp.
-Thí dụ ông có nghe nói là ông ấy đi xe lửa xuống đây hôm qua không?
Ông xếp ga lắc đầu.
-Thưa ông, đường hỏa xa Đông Anglian là nơi ông ta không bao giờ dám chường mặt vì không có một xếp ga nào, một người soát vé nào, một phu khuân vác nào mà không biết rõ mặt ông ta như chính ông ta thấy rõ mặt mình trong gương vậy. Không ai mà không gọi điện cho cảnh sát ngay khi gặp ông ta ở bất cứ đoạn đường nào. Ông không biết là từ ngày 25 tháng 9 vừa qua đã có công văn truy nã ông ta rồi sao?
Bạn tôi vẫn cố nói:
-Ấy vậy mà một ông đi từ London đến Clayborough hôm qua bằng chuyến tốc hành buổi chiều khai rằng đã gặp ông Dwerrihouse trên xe và nói rằng ông ấy xuống ga Blackwater.
-Thưa ông, không thể có chuyện đó được. Ông xếp ga đáp ngay.
-Tại sao lại không thể được?
-Bởi vì ở ga này ai cũng biết ông ta và ông ta sẽ gặp rắc rối to, cũng như đút đầu vào mõm sư tử vậy. Có điên ông ta mới đến ga Blackwater, mà nếu có đến thì ông ta cũng đã bị bắt ngay khi xuống ga.
-Ông có thể cho biết ai đã soát vé đi Blackwater trong chuyến đó không?
-Đó là Benjamin Somers.
-Chúng tôi có thể tìm anh ta ở đâu?
-Muốn gặp ông có thể chờ ở đây đến 1g. Ông ta sẽ lên theo chuyến tốc hành từ Crampton, chuyến này sẽ ghé ga Blackwater 10 phút.
Chúng tôi ở lại chờ và để qua thì giờ, chúng tôi thả bộ dọc đường phố Blackwater ra đến vòng đai tỉnh, từ đó nhìn lại nhà ga ở cách xa gần vài dặm. Đúng 1g chúng tôi lại có mặt ở sân ga để chờ chuyến xe lửa. Xe đến rất đúng giờ và tôi nhận ngay ra người soát vé có bộ mặt đỏ gay đã đi trên chuyến tàu với tôi chiều tối hôm qua.
Để thay lời giới thiệu ông xếp ga nói:
-Somers, hai ông đây muốn hỏi anh một vài điều về ông Dwerrihouse.
Somers liếc nhìn từ tôi đến Jeff rồi trở lại tôi. Anh ta hỏi:
-Ông John Dwerrihouse, cựu giám đốc?
Bạn tôi đáp: -Vâng. Nếu gặp ông ấy anh có nhận ra không?
-Thưa ông, tôi sẽ nhận ra dầu bất cứ ở đâu.
-Anh có biết là ông ấy đã đi chuyến 4g15 chiều hôm qua không?
-Không có đâu, thưa ông.
-Làm sao anh biết chắc chắn được?
-Bởi vì tôi nhìn vào từng toa và thấy từng bộ mặt trên chuyến đó và tôi thề là không thấy ông Dwerrihouse, còn ông đây thì tôi có thấy, mặc dầu tôi chưa gặp bao giờ nhưng tôi nhớ mặt ông rất rõ.
Anh ta quay nhìn tôi.
-Hôm qua ông xém trể tàu tại ga này và ông xuống ga Clayborough.
-Đúng vậy. Tôi đáp. –Nhưng anh không nhớ mặt cái ông ngồi chung toa với tôi tới đây sao?
Somers nói vẽ vô cùng kinh ngạc:
-Tôi nhớ là ông đi chỉ có một mình mà?
-Ồ không, tôi có một bạn đồng hành cùng đi đến Blackwater, và chính vì muốn đưa lại cho ông ấy hộp xi-gà ông ấy đánh rơi trong toa mà tôi đã xém trể tàu đấy.
-Tôi nhớ có nghe ông nói gì đó về một hộp xi-gà, nhưng….
-Anh đã đòi xem vé tôi trước khi tàu vào ga đó.
-Phải rồi, thưa ông.
-Vậy thì anh phải thấy ông ấy chứ. Ông ấy ngồi ở góc gần ngay cửa vào mà.
-Quả thật tôi không thấy ai hết.
Tôi nhìn Jeff và bắt đầu nghĩ rằng người soát vé này chắc là về phe với ông cựu giám đốc và đã được trả tiền để giữ im lặng. Somers nói thêm:
-Nếu tôi thấy một hành khách khác thì tôi đã hỏi vé rồi. Ông có thấy tôi hỏi vé ai khác ngoài ông không?
-Đúng là anh không hỏi nhưng ông ấy giải thích rằng….
Tôi lưỡng lự sợ rằng mình đã nói lộ nhiều quá chăng, vì vậy tôi ngưng ngang.
Người soát vé và ông xếp ga nhìn nhau trao đổi và người soát vé nhìn đồng hồ tay vẽ bồn chồn. Anh ta nói:
-Chỉ còn 4 phút nữa là tôi phải đi, thưa ông.
Jeff cố hỏi thêm:
-Một câu cuối nữa thôi. Nếu người bạn đồng hành của ông đây đúng là ông Dwerrihouse và đã ngồi ngay góc gần cửa nơi anh soát vé thì có thể nào anh không thấy và không nhận ra không?
-Dạ, không khi nào có chuyện đó.
-Anh chắc là không nhìn thấy ông ấy chứ?
-Như tôi đã nói hồi nảy, tôi thề là không thấy ông ta và tôi cũng không muốn nói ngược với ông khách đây làm gì nhưng tôi thề rằng ông đây đã đi một mình trong toa suốt từ London đến Clayborough. Hơn nữa,
Anh ta nói thêm, hạ nhỏ giọng để ông xếp ga vừa được gọi sang nói chuyện với một người gần đó không nghe thấy được.
-chính ông đã nhờ tôi tìm một toa riêng cho ông và tôi đã làm đúng như thế. Chính tôi đã khóa cửa lại và ông đã tử tế hậu tạ cho tôi đấy.
-Phải, nhưng ông Dwerrihouse có một chìa khóa riêng.
-Thưa ông, tôi không hề thấy ông ta. Ngoài ông ra tôi chẳng thấy ai khác trong toa cả. Xin lổi các ông đã đến giờ tôi phải đi.
Nói xong anh ta đưa tay chào rồi quay đi. Một phút sau tiếng thở nặng nề của đầu máy nổi lên và xe lửa lướt chậm ra khỏi sân ga.
Chúng tôi nhìn nhau im lặng trong vài giây rồi tôi cất tiếng:
-Anh Somers này biết nhiều hơn là anh ta muốn nói ra.
-Anh nghĩ thế à?
-Hẳn là như vậy, vì anh ta không làm sao đứng ngay cửa toa mà không thấy ông Dwerrihouse được. Không thể nào.
-Anh bạn ạ, có một chuyện có thể được đấy.
-Chuyện gì thế?
-Là anh đã ngủ quên và mơ thấy tất cả câu chuyện.
-Có thể nào tôi mơ thấy việc thiết lập một đường hỏa xa ngánh mà tôi chưa từng nghe nói đến không? Có thể nào tôi mơ thấy hàng trăm chi tiết nhỏ nhặt về kinh doanh mà tôi không hề quan tâm đến không? Có thể nào tôi mơ thấy chính xác 75.000 bảng Anh không?
-Có lẽ anh đã thấy trên báo hoặc nghe nói đến việc đó lúc còn ở nước ngoài. Có thể lúc đó anh không để ý nhưng tên của các nhà ga dọc đường hỏa xa đã gợi cho anh nhớ lại những chi tiết đó trong giấc mơ.
-Thế còn vụ cháy trong ống khói lò sưởi của căn phòng xanh thì sao? Chẳng lẽ tôi cũng nghe nói đến vụ đó lúc ở nước ngoài à?
-À không, việc này thì tôi phải công nhận là khó giải thích.
-Và còn hộp xi-gà thì sao?
-A, trời đất, lại còn hộp xi-gà nữa chứ. Đó là một việc khó chối cãi. Chuyện này thật bí ẩn, nó cần một thám tử tài ba hơn tôi nhiều để tìm ra sự thật. Thôi, có lẽ chúng ta nên trở về thì hơn.
Không đầy một tuần sau tôi nhận được một thư của ông bí thư Công ty hỏa xa Đông Anglian mời đến dự một buổi họp hội đồng đặc biệt trong vài ngày tới. Thư không nêu lý do và cũng không cáo lỗi về việc làm mất thì giờ của tôi, nhưng tôi chắc là họ đã nghe nói tới vụ dò hỏi của chúng tôi về ông giám đốc mất tích nên muốn chính thức tra gạn tôi về việc đó. Vì vẫn còn là khách của biệt thự Dumbleton nên tôi đồng ý lên London dự buổi họp và Jeff cùng đi với tôi. Tôi nhận thấy ban giám đốc Công ty Đông Anglian gồm 12 hoặc 14 vị ngồi nghiêm nghị quanh một bàn to màu xanh lá cây trong một căn phòng tối.
Được ông chủ tịch đón tiếp niềm nở (ông này nói ngay là việc dọ hỏi của tôi về ông Dwerrihouse đã đến tai ban giám đốc, vì thế họ ước muốn được tham khảo với tôi về vấn đề đó), chúng tôi được mời ngồi vào bàn và theo đúng thể thức cuộc chất vấn diễn tiến.
Trước hết tôi được hỏi xem có biết ông Dwerrihouse không và tôi đã quen biết ông ấy bao lâu? Trường hợp gặp mặt tôi có nhận diện được không? Rồi tôi được hỏi đã gặp ông ấy lần cuối cùng lúc nào? Tôi đáp:
-Vào ngày 4 tây tháng 12, 1856.
Tôi lại được hỏi đã gặp ông ấy vào ngày đó tại đâu. Tôi đáp:
-Trên toa hạng nhất chuyến tốc hành 4g15.
Rằng ông ấy lên toa lúc tàu vừa rời London và đã xuống ở ga Blackwater. Ông chủ tịch muốn biết xem tôi có chuyện trò với người đồng hành ấy không nên tôi đã thuật lại mọi điều ông Dwerrihouse nói theo như trí nhớ.
Cả hội đồng chăm chú lắng nghe trong khi ông bí thư ghi chú. Tôi đưa ra hộp xi-gà và nó được chuyền từ tay người này sang tay người kia, tất cả đều nhận ra nó. Không ai hiện diện mà lại không nhớ hộp xi-gà đơn giản với những mẫu tự bằng bạc. Sau khi tôi đã kể hết mọi chuyện, ông chủ tịch thì thầm với ông bí thư, ông này nhấn vào một nút chuông bằng bạc và Somers được đưa vào phòng. Anh ta được chất vấn thật kỹ giống như tôi. Anh ta nói biết ông Dwerrihouse rất rõ không bao giờ lầm lẫn được, rằng anh ta có đi theo chuyến tốc hành 4g15 vào buổi chiều hôm đó, rằng anh ta có nhớ tôi vì đặc biệt chiều hôm đó có một, hai toa hạng nhất trống nên anh ta đã theo lời yêu cầu của tôi chọn cho tôi một toa riêng. Anh ta chắc chắn rằng tôi đã ở một mình trong toa suốt cuộc hành trình từ London đến Clayborough. Anh ta sẵn sàng tuyên thệ rằng ông Dwerrihouse không có mặt trong toa với tôi hay bất cứ toa nào khác. Anh ta nhớ rõ đã xem xét vé của tôi ở Blackwater và nhớ chắc rằng không có ai khác trong toa của tôi lúc đó, rằng nếu có người thứ hai thì không thể nào anh ta không trông thấy được, và nếu người thứ hai đó lại là ông Dwerrihouse thì anh ta đã lẳng lặng khóa cửa và chạy báo ngay cho ông xếp ga rồi. Đó là những lời khai của Somers, thật rõ ràng, chắc chắn khiến hội đồng có vẽ bối rối. Ông chủ tịch nói:
-Ông Langford, ông đã nghe rõ lời khai của nhân chứng này, nó trái ngược lại với các lời khai của ông. Vậy ông nghĩ thế nào?
-Tôi chỉ có thể lặp lại những điều tôi đã nói khi nãy là tôi hoàn toàn chắc chắn sự thật những điều tôi thấy cũng như Somers chắc chắn những điều anh ta nói.
-Ông nói rằng ông Dwerrihouse xuống ga Blackwater, rằng ông ta có chìa khóa riêng. Ông có chắc là ông ta không dùng chìa khóa riêng để mở cửa toa xuống ga trước khi anh Somers tới soát vé không?
-Tôi chắc chắn là ông ấy không hề rời khỏi toa cho tới khi xe lửa đã vào hẳn sân ga và các hành khách khác cùng xuống ga. Tôi còn thấy ông ấy được một người bạn đến đón.
-Thật sao? Ông có thấy rõ người đó không?
-Thấy rõ lắm.
-Ông có thể tả lại hình dáng không?
-Được chứ. Người đó thấp, tóc hơi vàng, râu mép và râu cằm rậm ri, mặc một bộ đồ bằng hàng nỉ màu xám. Tôi đoán tuổi ông ta khoảng 38, 40 gì đó.
-Ông có thấy ông Dwerrihouse rời nhà ga với ông đó không?
-Tôi không biết được. Tôi chỉ thấy hai người đi trên sân ga và đến đứng nói chuyện dưới một ngọn đèn gas. Sau đó thì tôi mất dấu họ một cách đột ngột và rồi tôi phải lên tàu đi tiếp cuộc hành trình.
Ông chủ tịch và ông bí thư bàn bạc nho nhỏ với nhau. Các giám đốc cũng thì thầm với nhau. Một vài người nhìn anh soát vé vẽ nghi ngại. Tôi nhận thấy rằng những chứng cứ của tôi không thể cãi chối được và cũng như tôi họ nghi ngờ người soát vé là đồng lõa với ông Dwerrihouse. Ông chủ tịch hỏi:
-Somers, anh đã theo chuyến 4g15 hôm đó tới đâu?
-Dạ, tôi đi suốt chuyến từ London đến Crampton.
-Sao lại không có ai thay cho anh ở Clayborough? Tôi nhớ là luôn luôn có người thay ở ga Clayborough mà?
-Dạ,trước kia thì như vậy nhưng sau có điều lệ mới hiệu lực từ giữa hè năm ngoái là nhũng nhân viên soát vé trên các chuyến tốc hành đều phải đi suốt chuyến.
Ông chủ tịch quay sang ông bí thư nói:
-Tôi nghĩ là ta nên kiểm tra lại việc này trong quyển lịch trình. Ông bí thư lại nhấn cái nút bạc nhờ tùy phái cho mời ông Raikes. Nhờ một, hai câu nghe lõm được tôi đoán ông Raikes là một trong các ông phó bí thư.
Ông ta đến, một người nhỏ nhắn, tóc vàng, mắt lanh lẹ, cử chỉ nôn nóng, râu mép và râu cằm rậm ri. Ông ta chỉ ló mặt ở cửa vào phòng họp và được nhờ mang đến một quyển lịch trình nào đó trên một kệ trong một phòng nào đó, rồi ông ta cúi chào và quay đi.
Ông ta chỉ hiện diện trong một chốc nhưng sự ngạc nhiên nhìn thấy ông ta quá lớn lao và đột ngột đến nổi chỉ sau khi cửa đã đóng lại sau lưng ông ta tôi mới bật ra tiếng được. Tôi bật nhỏm dậy và nói to:
-Đó là người đã đến gặp ông Dwerrihouse ở ga Blackwater.
Cả phòng kinh ngạc. Ông chủ tịch nghiêm nghị và nóng nảy nói:
-Ông Langford, hãy cẩn thận những điều ông nói.
-Tôi chắc chắn về diện mạo của ông ta như chính của tôi vậy.
-Ông có xét lại hậu quả lời nói của ông không? Ông có nhận thấy đã đem một lời tố cáo nặng nề nhất đến cho một nhân viên của công ty chúng tôi không?
-Nếu cần tôi sẵn sàng tuyên thệ. Người đàn ông đến trước cửa cách đây một phút là người mà tôi thấy đứng nói chuyện với ông Dwerrihouse trên sân ga Blackwater. Dầu ông ta có là một nhân vật quan trọng nhất trong công ty, tôi cũng không thể nói khác hơn được.
Ông chủ tịch quay sang người soát vé.
-Anh có thấy ông Raikes trên xe lửa hoặc trên sân ga không?
Somers lắc đầu.
-Tôi quả quyết là ông Raikes không có trên xe lửa và tôi cũng chẳng thấy ông ấy trên sân ga.
Ông chủ tịch quay sang ông bí thư.
-Ông Hunter, ông Raikes làm trong văn phòng của ông. Ông nhớ xem ông ấy có vắng mặt vào ngày 4 tây không?
Ông bí thư đáp:
-Tôi không nghĩ là ông ấy vắng mặt nhưng tôi không chắc lắm. Gần đây tôi thường phải đi công việc vào buổi chiều, ông ấy có thể vắng mặt nếu ông ấy được phép.
Ngay lúc ấy ông phó bí thư đến mang theo quyển lịch trình. Ông chủ tịch nói:
-Ông Raikes, ông coi dùm vào ngày 4 tây tháng này trách vụ của Benjamin Somers là gì.
Ông Raikes mở lịch trình ra, bằng một ngón tay và cặp mắt nhà nghề ông ta dò theo ba hoặc bốn cột chữ nối tiếp nhau và dừng lại ở cuối trang, rồi ông ta đọc to lên là vào ngày đó Benjamin Somers đã theo chuyến tốc hành 4g15 đi suốt từ London đến Crampton.
Ông chủ tịch chồm ra khỏi ghế nhìn thẳng vào mặt ông phó bí thư hỏi đột ngột:
-Còn ông, ông Raikes, chiều hôm đó ông ở đâu?
-Tôi à, thưa ông?
-Chính ông. Chiều và tối ngày 4 tây tháng này ông ở đâu?
-Dạ ở tại đây trong văn phòng ông Hunter. Tôi còn ở đâu khác nữa chứ.
Trong giọng nói của ông phó bí thư có chút run sợ nhưng vẽ ngạc nhiên của ông ta thì rất tự nhiên.
-Ông Raikes , chúng tôi có lý do để tin rằng ông đã vắng mặt chiều hôm đó không có phép, có đúng vậy không?
-Thưa, chắc chắn là không đúng. Kể từ tháng 9 đến bây giờ tôi chưa hề có một ngày nghỉ nào cả. Ông Hunter sẽ làm chứng cho tôi về việc này.
Ông Hunter lặp lại những điều ông đã nói khi nãy nhưng nói thêm rằng các thư ký trong văn phòng bên cạnh chắc chắn sẽ biết. Vì vậy người thư ký trưởng, một người trung niên, vẽ nghiêm trang, đeo cặp kiếng xanh đậm được mời đến chất vấn.
Lời khai của ông này gỡ rối cho ông phó bí thư ngay. Ông này nói rằng theo ông biết thì ông Raikes không hề vắng mặt trong giờ làm việc bao giờ kể từ khi ông ta trở về sau chuyến nghỉ phép thường niên hồi tháng 9.
Tôi lấy làm bối rối. Ông chủ tịch quay sang tôi mỉm cười, vẽ hơi khó chịu.
-Ông Langford, chắc ông đã nghe rõ?
-Vâng, nhưng lời tố cáo của tôi không thay đổi.
-Ông Langford, tôi e rằng các cáo buộc của ông là vô căn cứ. Tôi nghĩ rằng ông đã nằm mơ và lẫn lộn sự kiện thật với giấc mơ. Đó là một thói quen tâm trí nguy hiểm, có thể đưa đến các hậu quả tai hại. Nếu ông Raikes đây không có lý do cách diện rõ ràng thì đã rơi vào một tình huống không may rồi.
Tôi định trả lời nhưng ông không dành cho tôi chút thì giờ nào mà quay sang nói tiếp với hội đồng.
-Thưa quý vị, tôi nghĩ rằng chúng ta sẽ phí thì giờ nếu tiếp tục cuộc tra vấn này. Chứng cứ của ông Langford chỉ có giá trị tương đối. Lời khai của Benjamin Somers đã làm mất giá trị phần đầu của lời khai ông Langford và lời khai của nhân chứng vừa rồi lại làm mất giá trị phần thứ hai của lời khai ông Langford. Tôi nghĩ chúng ta có thể kết luận rằng ông Langford đã ngủ quên trên xe lửa trong chuyến đi Clayborough và đã mơ một giấc mơ bất thường và rõ ràng mà chúng ta đã được nghe khá đầy đủ.
Có vài điều còn khó chịu hơn là lời khai chắc chắn của mình bị người ta nghi ngờ. Tôi không thể không bực mình vì sự việc đã xảy ra trái ngược như vậy. Tôi không đủ chứng cớ để đối lại với sự mỉa mai trong cung cách của ông chủ tịch. Khó chịu hơn cả là cái cười mỉm lặng lẽ ở khóe môi Benjamin Somers và ánh mắt nửa như đắc thắng nửa như thù ghét của ông phó bí thư. Rõ ràng là ông ta có vẽ bối rối và hơi sợ hãi. Cái nhìn của ông ta như lén lút tra vấn tôi. Hắn là ai? Hắn muốn gì? Tại sao hắn lại đến đây để gieo sự nghi ngờ giữa các ông chủ với mình? Có gì liên quan đến hắn là mình đã vắng mặt không phép hay không?
Đọc ra những thắc mắc này từ ánh mắt của ông phó bí thư và có lẽ vì bực mình, tôi đã xin hội đồng nhín cho thêm chút thì giờ. Jeff bồn chồn kéo tay áo tôi thì thầm:
-Thôi bỏ qua đi. Ông chủ tịch nói phải, anh đã mơ, bây giờ đừng nói gì thêm là tôt hơn cả.
Tuy nhiên tôi không thể nín lặng như thế được. Tôi vẫn còn một điều để nói và tôi phải nói ra. Đó là: những giấc mơ không thể tạo ra các kết quả có thể sờ mó được và tôi đòi ông chủ tịch giải thích xem tại sao giấc mơ của tôi lại có thể tạo ra một ảo giác quá thật và tốt đẹp như hộp xi-gà mà tôi đã được vinh dự đặt ra trước mặt ông khi buổi tra vấn bắt đầu? Ông chủ tịch đáp:
-Ông Langford, tôi công nhận hộp xi-gà là điểm mạnh nhất trong chứng cớ của ông. Tuy nhiên nó là điểm mạnh duy nhất của ông mà thôi, và có thể là chúng tôi đã lầm lẫn vì sự quá giống của nó. Ông cho phép tôi xem lại cái hộp nhé.
Tôi trao cho ông vừa nói:
-Không thể có một sự giống nhau từng chi tiết những chữ cái tới các điểm nhỏ nhặt khác.
Ông chủ tịch xem xét trong im lặng một lát rồi đưa qua ông Hunter. Ông Hunter quay hộp qua lại rồi lắc đầu.
-Đây không phải là một sự giống nhau. Chắc chắn đây là hộp xi-gà của ông Dwerrihouse. Tôi nhớ nó rất rõ, tôi thấy nó cả trăm lần rồi.
Ông chủ tịch nói thêm:
-Tôi cũng nghĩ vậy, nhưng như thế thì làm sao giải thích được tại sao nó lại vào tay ông Langford?
Tôi đáp:
-Tôi chỉ có thể lặp lại là tôi đã thấy nó trên sàn toa sau khi ông Dwerrihouse xuống ga. Lúc chồm ra cửa sổ để nhìn theo ông ấy tôi đã đạp phải nó và chính lúc chạy theo để trao trả nó lại cho ông ấy, tôi đã trông thấy ông Raikes đứng nói chuyện với ông ấy.
Tôi lại nghe Jeff kéo tay áo tôi thì thào.
-Nhìn ông Raikes kìa! Nhìn ông Raikes kìa!
Tôi quay nhìn về phía ông phó bí thư đã đứng khi nãy và trông thấy ông ta, mặt trắng bệch, môi run rẩy đang lùi dần về phía cửa.
Từ mối nghi ngờ nổi lên đột ngột, kỳ lạ và rõ ràng đến lúc tôi nhảy bổ về phía ông ta, chụp hai vai ông ta như chụp một đứa con nít, quay gương mặt sợ hãi của ông ta về phía hội đồng, chỉ mất một tích tắc đồng hồ. Tôi hô lên:
-Hãy nhìn ông ta! Hãy nhìn mặt ông ta! Tôi không đòi hỏi một nhân chứng nào hơn để nói lên sự thật các lời nói của tôi trước hội đồng.
Đôi lông mày ông chủ tịch nhíu lại. Ông nói một cách nghiêm khắc.
-Ông Raikes, nếu ông có biết điều gì thì tốt hơn ông nên nói ra.
Cố gắng vô hiệu quả để vuột khỏi tay tôi, ông phó bí thư lắp bắp một lời phủ nhận không rõ rệt.
-Buông tôi ra….Tôi không biết gì cả…Ông không có quyền giữ tôi lại đây…Buông tôi ra.
-Ông có đến gặp ông Dwerrihouse ở ga Blackwater không? Lời tố cáo ông hoặc là thật hoặc là giả. Nếu thật thì ông sẽ có lợi hơn nếu cung khai hết những điều ông biết ra đây để xin lượng khoan hồng của hội đồng.
Ông phó bí thư vặn vẹo hai bàn tay trong một nổi sợ hãi đau đớn. Ông ta kêu lên:
-Tôi ở xa. Lúc đó tôi ở xa cả 200 dặm kia mà. Tôi không biết gì về việc đó cả. Tôi không có gì phải cung khai cả. Tôi vô tội! Tôi xin Chúa hãy chứng giám sự vô tội của tôi.
Ông chủ tịch hỏi:
-Cách xa 200 dặm. Ông nói gì thế?
-Tôi ở Devonshire. Tôi được nghỉ phép ba tuần. Tôi đã xin với ông Hunter. Ông Hunter biết là tôi được nghỉ phép ba tuần mà. Suốt thời gian đó tôi ở Devonshire. Tôi có thể chứng minh là tôi dã ở Devonshire.
Thấy thái độ của ông ta sợ hãi. Nói năng không rõ ràng và vẽ lo lắng thái quá, các giám đốc bắt đầu xì xầm với nhau và một người lặng lẽ đứng dậy bảo anh tùy phái đứng canh cửa. Ông chủ tịch lại hỏi:
-Việc ông đã ở Devonshire thì có liên quan gì đến vấn đề này? Ông đã ở Devonshire khi nào?
Ông bí thư đáp:
-Ông Raikes nghỉ phép hồi tháng 9, khoảng vào lúc ông Dwerrihouse bỏ đi mất.
-Tôi chẳng hề biết là ông ấy đã đi mất mãi cho tới khi tôi nghỉ phép về.
Ông chủ tịch nói:
-Điều đó để sẽ xét lại. Tôi sẽ giao việc này lại cho cảnh sát ngay. Còn bây giờ thì, ông Raikes, là một chưởng lý và đã từng xử những vụ như thế này, tôi khuyên ông không nên chống cự mà hãy thú tội lúc còn kịp thời. Còn về người đồng lõa với ông…
Con người sợ hãi kia quỵ xuống hai đầu gối và kêu lên:
-Tôi không có đồng lõa nào cả, nhưng xin hãy khoan hồng cho tôi. Hãy tha mạng sống tôi, tôi sẽ khai hết tất cả. Tôi không có ý định hại ông ấy. Tôi không có ý làm đau một sợi tóc trên đầu ông ấy. Chỉ xin hãy khoan hồng cho tôi và tha cho tôi.
Ông chủ tịch đứng dậy, tái mặt và đầy khích động. Ông thảng thốt nói:
-Trời đất ! Điều bí ẩn khủng khiếp gì đây? Ông muốn nói gì chứ?
Jeff nói:
-Còn gì phải hỏi nữa, chắc chắn như Chúa trên trời là án mạng đã xảy ra.
-Không. Không. Không. Raikes thét lên, vẫn quỳ và co rút người như một con chó săn bị đánh đập.
-Không phải sát nhân. Không một bồi thẩm đoàn nào có thể nói đây là một vụ cố sát được. Tôi tưởng chỉ làm ông ấy bất tỉnh thôi. Tôi không hề có ý làm hơn như thế. Ngộ sát. Ngộ sát. Không phải cố sát.
Kinh hoàng vì sự tiết lộ không ngờ này, ông chủ tịch đưa tay bụm mặt và yên lặng trong ít giây. Cuối cùng ông nói:
-Con người khốn khổ kia. Ông đã tự tố cáo mình ra rồi.
-Ông bảo tôi hãy cung khai. Ông khuyên tôi hãy nhờ lượng khoan hồng của hội đồng.
Ông chủ tịch đáp:
-Ông đã thú ra một tội mà không hề một ai nghi ngờ cho ông cả. Một tội mà hội đồng nầy không có quyền xử phạt hay tha thứ. Tôi chỉ có thể khuyên ông nên nộp mình cho luật pháp, nên nhận tội và đừng giấu giếm gì cả. Ông đã làm việc đó hồi nào?
Con người phạm tội đứng lên, nặng nề dựa vào bàn. Câu trả lời của ông ta thốt ra một cách do dự, giống như lời nói của một người đang mơ ngủ.
-Vào ngày 22 tây tháng 9.
Vào ngày 22 tây tháng 9 ! Tôi nhìn Jeff và Jeff nhìn tôi. Tôi nghe mặt mình tái đi trong một cảm giác ghê sợ và ngạc nhiên. Tôi thấy mặt Jeff bổng tái nhợt và cặp môi cũng thế. Anh thì thào:
-Chúa ơi ! Vậy thì anh đã thấy gì trên xe lửa?
Câu hỏi này không được giải đáp cho đến nay. Tôi đã không thể trả lời được. Tôi chỉ biết rằng người tôi gặp giống hệt như người bị giết, cái người mà thân xác đã nằm khoảng mười tuần lễ dưới một đống cành cây khô và lá mục, dưới đáy một cái hố rác vắng vẻ ở giữa đường từ Blackwater đến Mallingford. Tôi biết rằng người đó đã nói, đã đi đứng và đã nhìn giống y như cái xác kia đã nói, đã đi đứng và đã nhìn khi còn sống. Tôi biết rằng tôi đã được nghe kể những điều, những công chuyện làm ăn mà tôi không thể nghe biết được bằng cách nào khác. Tôi cũng biết rằng tôi đã được hướng dẫn cho thấy hình ảnh trên sân ga để dẫn dắt tôi đến việc xác nhận lý lịch của kẻ sát nhân, rằng tôi là một dụng cụ thụ động được dùng để mang lại công lý sau cùng. Những điều này tôi không thể nào giải thích được.
Về hộp xi-gà thì theo cuộc điều tra tôi được biết, toa xe mà tôi đã đi chiều hôm đó đến Clayborough đã không được dùng đến trong nhiều tuần lễ mà cũng là toa xe mà ông Dwerrihouse đáng thương đã đi lần cuối cùng. Hẳn là ông ấy đã đánh rơi và nó đã nằm đó không ai thấy mãi đến khi tôi lượm được.
Về chi tiết vụ án mạng tôi không cần phải dài dòng. Những ai muốn biết rõ từng chi tiết có thể lục xem bảng thú tội của Augustus Raikes trong hồ sơ lưu của báo Times năm 1856. Chỉ cần tóm tắt như sau: Ông phó bí thư biết đến dự án thiết lập đường hỏa xa mới, đã theo dõi từng bước cuộc thương lượng và quyết định đón đường ông Dwerrihouse để cướp số tiền 75.000 bảng Anh rồi trốn sang Mỹ.
Để thực hiện ý định, ông ta đã xin nghỉ phép vài ngày trước thời gian ấn định cho vụ trả tiền, và đã ghi tên giữ chổ trên một tàu hành khách xuyên Đại Tây Dương sẽ khởi hành ngày 23 tây. Mang theo một bình dưỡng khí cá nhân ông ta đến Blackwater để chờ đợi nạn nhân của mình. Ông ta đã gặp nạn nhân trên sân ga với một bức điện giả của hội đồng như thế nào. Đã đề nghị hướng dẫn nạn nhân theo một đường tắt ngang qua các cánh đồng để đến Mallingford như thế nào. Khi đến một nơi vắng vẻ đã đập nạn nhân bằng bình dưỡng khí và giết chết ông ta như thế nào. Khi nhận ra việc mình đã làm, liền kéo xác nạn nhân đến một hố rác khuất nẻo như thế nào và đã ném xác xuống đó rồi chất cành cây và rác rưởi lên trên. Lạ thay, tên sát nhân sau khi thi hành xong thủ đoạn lại không dám rời nước. Hắn nói rằng không có ý định giết người mà chỉ định đập bất tỉnh để cướp của, nhưng khi thấy nạn nhân đã chết hắn không dám tẩu thoát vì sợ kéo mọi nghi ngờ về phía mình. Hắn biết nếu chỉ là một tên cướp của hắn sẽ trốn an toàn ở Mỹ, nhưng là một tên sát nhân thì không thể nào tránh khỏi bị săn đuổi và đem ra công lý. Vì vậy hắn đã xin gạch tên trên chuyến tàu và trở về văn phòng như bình thường sau khi mãn phép, cất dấu số tiền cướp để chờ một dịp thuận tiện hơn. Trong khi đó hắn vô cùng khoan khoái thấy ông Dwerrihouse bị mọi người cho rằng đã tẩu thoát với số tiền, nhưng không ai biết bằng cách nào.
Dầu có cố sát hay không, Augustus Raikes cũng đã đền tội ác của mình và bị treo cổ ở nhà giam Bailey vào giữa tháng giêng 1857. Ai muốn được nhìn rõ ông ta (làm bằng sáp) có thể đến xem “Căn phòng khủng khiếp” bất cứ lúc nào tại phòng trưng bày của bà Tussaud ở đường Baker. Tại đó sẽ thấy ông ta đứng giữa đám các ông các bà phạm tội ác, mặc bộ đồ nỉ cắt sát mà ông ta đã mặc ngày gây án và cầm trên tay cái tang vật đã dùng để giết người.

Sunday, 1 June 2014

NÀNG DÂU ÂM PHỦ



Nói tới Hai Lân thì cả làng không ai là không biết. Chỉ cần nghe tiếng bước chân nặng nề, khi đi, khi chạy là người ta đã nói đúng phóc người đó là ai. Bởi Hai Lân tuy còn trẻ, dáng người mảnh khảnh, nhưng có bước chân nặng, lóc chóc đến khó tin.
Nhà Lân nghèo, cha mẹ già lại chỉ có mỗi Lân là con, nên dẫu thấy Lân suốt ngày cứ đi lêu lỏng, chẳng chịu làm việc gì, họ cũng chỉ biết lắc đầu than thở một mình, chớ chẳng nỡ trách mắng.
Có người cắc cớ hỏi Hai Lân:
- Sao mày không lấy vợ, để vợ nó đỡ đần cho bà mẹ tuổi gần đất xa trời?
Thì chỉ nhận được ở Hai Lân một nụ cười hiền lành và câu trả lời tội nghiệp:
- Có ai chịu đâu mà cưới.
Cũng có lần Hai Lân nói đùa:
- Nếu cô nào chịu về nuôi tui thì tui lấy liền!
“Có ma nó nuôi!” Đó là câu nói của hầu hết con gái trong làng khi nghe câu nói đùa của Hai Lân. Họ còn nguyền rủa:
- Thằng đó có ngày chết bờ chết bụi để rồi ma quỷ nó đưa về nuôi!
Kể ra cũng tội cho Hai Lân. Thuở nhỏ anh ta cũng được ông bà Hai Mộc cho đến trường. Cũng học hành giỏi dang, chữ nghĩa đủ dùng, nếu không muốn nói là còn khá hơn nhiều con nhà giàu trong vùng. Chỉ có điều là do nhà nghèo, nên đang học lên cấp cao hơn thì Hai Lân phải bỏ ngang. Bởi vậy, tuy lêu bêu, không việc làm, không có sự nghlệp, nhưng Hai Lân không bao giờ làm gì bậy bạ. Anh sống có nghĩa có tình với làng xóm, nên tuy không trọng anh, nhưng mọi người vẫn không có gì để khinh rẻ.
Bỗng một hôm Hai Lân nói nghiêm túc với mẹ:
- Con đi tìm vợ đây!
Bà Mộc vốn đã quen kiểu nói chuyện tưng tửng của con, nên nghe xong bà vẫn không thèm để ý. Mãi đến lúc thấy Hai Lân mặc áo mới đi ra thì ngạc nhiên hỏi:
- Mày đi đâu?
Hai Lân đáp tỉnh bơ:
- Đi kiếm vợ!
Ông Hai Mộc đang nằm ngủ nghe vậy cũng phải bật dậy:
- Chắc có con vợ hư của ai đó ném bãi rác, nó đi tìm để nhặt về đó!
Hai Lân chẳng nói chẳng rằng, cứ cắm cổ đi một hơi. Bà Mộc gọi với theo:
- Nhớ chiều về ăn cơm rồi còn đi chùa với tui đó!
Ông Hai Lân lắc đầu ngao ngán:
- Nói chơi vậy chớ nếu nó nhặt được con vợ hư bỏ đi của ai đó đem về, thì tui với bà cũng còn có hy vọng kiếm được đứa cháu nội! Hơn là vô vọng mãi như thế này…
Trong khi đó Hai Lân đi bộ khá xa, đến tận đầu làng. Nơi anh chàng ghé lại chính là cơ dinh của ông đại gia giàu nhất làng Dương Sơn. Nơi đó đang có một đám cưới đang cử hành!
Vốn không quen biết gia chủ, lại cũng không phải khách mời, mà còn ăn mặc lôi thôi nữa, nên khi vừa bước vô tới cổng đã bị mấy con chó giữ nhà ào ra sủa dữ dội. Nhưng thay vì sợ hãi, Hai Lân lại cứ tỉnh queo bước sâu vào sân. Một người ra dáng là quản gia, bước chận ngang mặt Hai Lân, hất hàm hỏi:
- Chú mày đi đâu? Bộ muốn chôm chỉa gì trong này phải không? Khôn hồn thì đi ra, không tao cho gông đầu lại bây giờ!
Hai Lân vẫn không ngán:
- Bộ đám cưới đón khách kiểu này hả?
Một bà lớn tuổi có lẽ sợ huyên náo ảnh hưởng tới bữa tiệc, vội bước tới nhỏ nhẹ hỏi:
- Cậu là khách của đàng trai hay đàng gái?
- Cả hai đàng! Nhất là cô dâu!
Vốn cô dâu Thiên Hương trước khi lấy chồng đã có nhiều sự giao du thoải mái, nên bà nọ không nghi ngờ lắm lời nói của Hai Lân, bà ta nói khẽ với gã kia:
- Cũng không chừng nó thuộc đám bạn của con Thiên Hương lúc đi học. Hay là cứ để nó vô đại đi. Con Thiên Hương mà biết mình ngăn cản bạn nó thì phiền hà lắm, ông bà chủ đang muốn xoa dịu nó…
Tay quản gia chỉ cho Hai Lân tới khu vực bàn dành cho khách nghèo của hai họ, một khu vực mà trong các đám cưới lớn cô dâu chú rể ít khi tới nơi chào hỏi.
Không quan tâm tới tiểu tiết đó, Hai Lân vô tư tới ngồi vào một bàn toàn người lạ. Cũng may cho anh ta, trong bàn hầu hết là những người lớn tuổi, có họ hàng xa với cô dâu hoặc chú rể, nên họ cũng không để ý chuyện ăn mặc xuềnh xoàng của Hai Lân. Đúng là đám cưới nhà đại gia có khác! Nguyên cả ngôi nhà đồ sộ, với khu sân vườn rộng thênh thang mà góc nào cũng kê bàn ghế, vậy mà khách còn khó kiếm chỗ trống để ngồi.
Mấy người bàn tán chuyện với nhau, có người nói:
- Con Thiên Hương chưa chịu lấy chồng, bị ba má nó bắt ép nên tưởng đâu đám cưới này không thành rồi.
Một người khác, chừng như là có họ hàng với đàng trai nên giọng điệu hơi bênh bên họ mình:
- Cô dâu này mà được về làm dâu bên nhà đó thì trúng số!
Người bên đàng gái thì không chịu:
- Bộ nhà này không giàu nhứt xứ này sao, cần gì của cải của ai!
Cuộc cãi vã sắp căng thì người ngồi bên cạnh Hai Lân tìm cách lái câu chuyện sang hướng khác, bà ta hỏi lớn:
- Cậu có gia đình chưa?
Hiểu ý bà ta, Hai Lân cũng đáp to, át cả lời đôi co của hai người kia:
- Dạ chưa, bởi chưa gặp người ưng ý. Mà cũng tại cháu, lâu nay ít đi ra ngoài, ít tới những chỗ đông người. Ông bà ta vẫn nói mà, trai khôn tìm vợ chợ đông mà…
Nghe cách nói chuyện ngồ ngộ của Hai Lân, mọi người quay sang anh bắt chuyện:
- Vậy bữa nay tới chốn “chợ đông” này, chắc cậu tìm được vợ?
Hai Lân cười tươi:
- Chắc là vậy! Tui đang tìm…
Nhờ Hai Lân mà không khí trong bàn trở lại thoải mái, vui vẻ hơn. Lát sau, một người nói:
- Đã chấm được ai chưa cậu gì đây…
Hai Lân vẫn giữ nụ cười thân thiện:
- Dạ vẫn chưa. Nhưng cũng sắp rồi. Linh tính báo cho cháu biết như vậy…
Cô dâu chú rể đang tới từng bàn chào hai họ. Phải mất hơn nửa tiếng sau họ mới tới gần khu “nhà nghèo”, một người nói vui:
- Khu vực của mình đời nào được tới chào. Bởi họ biết có chào thì tiền mừng cũng chẳng được bao nhiêu!
Câu nói gây sốc, nhưng lúc này không ai lên tiếng phản đối. Đột nhiên cô dâu chú rể hướng về bàn của Hai Lân đang ngồi, mà người chủ động là cô dâu, nàng ta gần như lôi chàng rể đi!
Một người thân với gia đình cô dâu lên tiếng:
- Con nhỏ vậy mà được. Nó tới chào mình đó!
Chợt đôi mắt Hai Lân sáng lên, anh ta lẩm bẩm:
- Đúng là nàng rồi! Đúng là nàng…
Bà ngồi cạnh hỏi nhỏ:
- Cậu tìm được người ưng ý rồi hả?
Hai Lân đáp liền:
- Được rồi!
- Mừng cho cậu! Nhưng là ai vậy, chỉ tui coi được hôn?
Hai Lân không ngại, đưa tay chỉ thẳng vào cô dâu:
- Nàng đây!
Lúc ấy cô dâu đã buông tay chú rể ra, ào tới ôm chầm lấy Hai Lân, trước sự bàng hoàng của đám đông! Dĩ nhiên là vợ chồng chủ gia đã kịp can thiệp, họ kéo tay Thiên Hương ra và sừng sộ với Hai Lân:
- Thằng này là ai vậy?
Hai Lân chưa kịp đáp thì cô dâu một lần nữa nhào tới đứng chận ngang trước mặt cha mẹ:
- Đây mới chính là người con yêu! Ba má mà cản thì con cắn lưỡi chết liền cho coi!
Cô le lưỡi ra đặt giữa hai hàm răng như sắp cắn, khiến cho bà Chủ Lụa phải kêu lên:
- Đừng ép nó. Để tui…
Bà xuống giọng với con gái:
- Có chuyện gì thì con từ từ nói với má. Sao lại làm như vầy hả Thiên Hương. Con có biết thằng này là ai đâu, tại sao…
Bà nói chưa dứt lời thì cô nàng đã quay lại ôm Hai Lân lần nữa:
- Đây mới chính là nhân duyên của con. Cái đám cưới này là thứ mà con bị ép buộc phải lấy, con không đời nào chịu làm vợ anh ta đâu ba má đừng ép!
Chú rể nãy giờ ngỡ ngàng, bấy giờ mới lên tiếng:
- Em điên rồi phải không Thiên Hương! Anh đây mới là chồng em…
Anh ta vừa nói vừa xông tới đấm thẳng vào mặt Hai Lân. Do quá bất ngờ, Hai Lân không hề né kịp, anh chờ để lãnh trọn cú đấm, thì… thật bất ngờ, mọi người nghe một tiếng thét lớn, rồi cô dâu ngã xuống với máu chảy ra từ khóe miệng! Thì ra cú đấm vừa rồi đã rơi thẳng vào mặt Thiên Hương, bởi cô nàng đã đưa má ra lãnh thay cho Hai Lân!
- Trời ơi, chết con tôi!
Bà chủ Lụa cúi xuống ôm con, vừa tru tréo:
- Sao mày đánh nó!
Bà đỡ con dậy, Thiên Hương mở mắt ra, nhìn trừng trừng vào chú rể:
- Mày nhớ nghe! Cú đấm này mày phải trả giá! Tao dứt khoát không lấy mày!
Vừa nói nàng ta vừa vùng dậy, phóng chạy ra ngoài trước sự ngơ ngác của thực khách! Hai Lân cũng lao theo:
- Cô… cô gì ơi! Cô Thiên Hương ơi!
Bóng họ mất hút trong bóng đêm…
Vợ chồng nghiệp chủ Trần Văn Lụa sững sờ rồi sau đó sượng sùng khi mọi quan khách đều nhìn vào họ như để chờ câu trả lời. Nhưng biết nói sao cho phải đây? Nghiệp chủ Lụa lắp bắp:
- Tụi nó… tụi nó điên hết rồi!
Chú rể Tấn Đạt sau một lúc sượng mặt, vội nói giọng yếu xìu:
- Con xin lỗi ba má, thật ra con không muốn làm như vậy. Người mà con nhắm đánh là thằng khốn nạn đó!
Bà chủ Lụa rên rỉ:
- Con có biết là ba má đã tốn bao công sức để dụ nó về và gả cho mày không? Nó đã phản đối bằng cách bỏ nhà đi cả tháng trời, rồi còn uống thuốc độc tự tử nữa, may mà người ta cứu kịp. Khi nó về nhà chính má là người năn nỉ nó suốt mấy đêm liền nó mới chịu thuận tình cho cử hành hôn lễ. Chuyện hồi nãy đúng ra con phải bình tĩnh, nhỏ nhẹ với nó, cộng với sự khuyên lơn của má, chớ đâu nên làm mạnh tay như vậy. Con nhỏ tánh tình ương ngạnh, không dễ để nó tha thứ cho chuyện vừa xảy ra đâu!
Ông chủ Lụa giục gia nhân đuổi theo. Nhưng sau một hồi rất lâu, bọn họ trở về báo lại:
- Dạ, cô chủ đã chạy đằng nào tụi con không tìm thấy.
Đám cưới trở thành một đám giặc. Do nhà trai bắt lỗi chuyện vừa rồi. Sui gia bên trai là một người có thế lực trong thương trường, sự giàu có còn trùm hơn cả nhà chủ Lụa, nên mụ vợ nhà đó lớn tiếng sỉ vả:
- Tưởng con gái mấy người quý lắm sao mà làm nhục con trai tôi! Để rồi coi đứa nào phải lạy đứa nào để xin lỗi! Đi về tụi bây!
Bọn họ rùn rùn bỏ ra về. Các thực khách khác thấy vậy cũng kéo về theo. Những bàn tiệc cỗ cưới mới ăn được vài món, còn bỏ lại ê hề…
Vợ chồng chủ nhà thẫn thờ như kẻ mất hồn… Nhất là bà chủ Lụa, khi bà chợt nhớ lại tánh mạng con gái mình, bà hốt hoảng gào lên:
- Đem xe ra cho tao đi kiếm con Thiên Hương coi! Nhanh lên!
Hình ảnh một Thiên Hương quá quẫn bách nhảy xuống dòng sông nào đó, hay thậm chí lao đầu vào xe đang chạy là điều có thể xảy ra lắm!
- Dạ thưa bà, xe đã chuẩn bị xong rồi.
Bà vụt chạy ra xe, ông chủ Lụa định chạy theo thì bị bà nạt ngang:
- Ông đi làm gì cho rối thêm! Ông ở nhà đó mà đi lạy lục thằng bạn làm ăn của ông, nó mới chửi ông như chửi chó đó chưa đã sao!
Tuổi già trên bảy mươi của ông, lăn lộn thương trường cũng lắm điều trái ngang, nhục nhã, nhưng chưa bao giờ Lụa bị một vố đau điếng, sỉ nhục như thế này. Ông nuốt nhục, chịu đựng một mình bây giờ cũng chỉ vì tự ông gây ra. Việc bắt ép con gái lấy người nó không yêu là bởi ông cần vay bên sui gia một số tiền lớn để kinh doanh, bởi thế họ mới coi thường ông, con gái nó hận ông…
* * *
Bà chủ Lụa lắng nghe người nọ kể:
- Cô Hai có ghé đây ở chơi nửa buổi rồi đi, tui có giữ lại nhưng cô không nghe. Mà lạ lắm, lúc đi tui thấy cô ấy khóc!
- Nó đi với ai chị có biết không?
- Làm gì có ai, cổ đi một mình. Đích thân cổ lái chiếc xe hơi màu đen xì, mà chạy lẹ lắm, suýt chút nữa là đụng gãy hàng rào nhà kế bên rồi!
Bà chủ Lụa nhẹ lắc đầu:
- Cái con này, tối qua tới giờ có ăn uống gì đâu, lại uống rượu nữa, mà lái xe kiểu đó…
Người phụ nữ tên gọi là dì Xinh, vốn bà con xa với bà chủ, hỏi lại:
- Chị mới nói hôm qua mà hôm qua nào? Cô Thiên Hương đâu có ghé đây hôm qua. Tui nói là nói cách đây hơn một tháng. Hôm ấy cổ ghé qua rồi đi, tới nay đâu có trở lại.
Bà chủ Lụa thất vọng:
- Vậy mà tui tưởng dì nói nó mới ghé.
Bà thở dài thườn thượt rồi lên xe đi tiếp, dặn với lại:
- Nếu nó có ghé lại đây lần nữa thì dì làm ơn giữ lại dùm, rồi báo liền cho tôi hay. Tốt nhất là dì biểu ai đó trong nhà xì bánh xe để nó không chạy được, như vậy mới giữ nó được.
Bà bảo tài xế:
- Chạy lẹ lẹ lên Trung Lương, tui ghé nhà người quen nữa, may ra nó có ghé lại đó.
Xe vừa vọt đi thì người ở nhà bên cạnh chạy ra đưa tay ngoắc:
- Bà chủ! Bà chủ!
Tài xế ngừng lại, bà chủ Lụa chưa kịp hỏi thì chú nói:
- Cô gì lái chiếc xe màu đen thỉnh thoảng có ghé đây chơi, là cái gì của bà chủ? Tui là Tư Há, tui có chuyện này muốn hỏi bà…
Bà chủ Lụa đáp:
- Nó là con gái tôi. Nghe nói hôm trước nó xém đụng ngã hàng rào của chú, vậy mà có sao không?
- Dạ không sao. Nhưng sau đó bộ bà không hay chuyện gì về cô ấy?
Bà chủ Lụa ngạc nhiên:
- Bộ nó đụng ai nữa phải không?
- Dạ cũng không. Không đụng vào ai, nhưng đụng vô lan can cầu!
Câu nói của anh ta khiến bà chủ Lụa phải mở cửa xe bước xuống, hốt hoảng hỏi:
- Đụng vô cầu nào? Sao tôi không nghe nó nói gì hết. Con thiệt tệ…
Lại đến phiên người đàn ông kia kinh ngạc:
- Bà nói cô ấy còn… còn… sống?
- Kìa chú! Chú nói…
Bà chủ Lụa thất thần, hỏi tiếng được tiếng mất:
- Chú… chú nói… chú nói… con tôi thế nào? Thì nó… còn sống chớ có chuyện gì…
Người nọ lẩm bẩm:
- Sao kỳ vậy… sao lại có chuyện…
Bà chủ Lụa vẫn còn run:
- Chú nói vậy là sao? Con tôi…
Ông ta quay vào nhà mình, kêu lớn:
- Sáu à, con ra đây ba biểu!
Người được gọi là Sáu, tên là Sáu Đời, từ trong nhà chạy ra ngay.
- Con nói cho bà chủ đây nghe chuyện cô gái lái chiếc xe đen bữa trước đụng gãy lan can cầu rồi rớt xuống sông ra sao?
Anh chàng tuổi cỡ mười lăm mười sáu, khá lanh lợi kể:
- Hôm đó cháu đi trên chợ về, vừa ngang cầu Rạch Gò thì đúng lúc chiếc xe đen đó lao lên lan can, đụng mạnh vô đó và rớt luôn xuống sông! Việc rất nhanh, nhưng con còn kịp nhìn thấy người lái xe là một cô gái, mà con còn nhớ cô ấy chính là cái cô thỉnh thoảng hay ghé đây thăm bà Hai bên cạnh. Con có đứng đó xem người ta mò tìm cô ấy…
Bà chủ Lụa gần muốn xỉu tại chỗ, bà hỏi hầu như không còn nghe rõ:
- Có… có sao không?
Sáu Đời thật tình đáp:
- Dạ, cổ chết tại chỗ!
- Trời ơi!
Chỉ kêu được hai tiếng đó rồi bà ta quỵ xuống, ngất đi. Trong lúc đó bà dì Xinh ở nhà bên vừa chạy ra, bà ngạc nhiên hỏi:
- Chị ấy sao vậy?
Người đàn ông đáp:
- Bà ấy nghe con tui kể chuyện cô gái lái xe hôm đó lọt xuống sông chết, vừa nghe xong bả xỉu liền!
Dì Xinh giật bắn người:
- Ai chết?
Tư Há nhíu mày nhìn sang con, hỏi:
- Bộ từ bữa đó tới nay con chưa báo cho Dì Xinh biết?
Sáu Đời lúng túng:
- Dạ chưa… bởi vì…
Dì Xinh phải giải thích thay:
- Có lẽ nó tránh mặt tui. Số là bữa trước nó theo ghẹo con gái tui, bị tui rầy…
Tư Há ôm đầu kêu lên:
- Trời ơi, con ơi là con! Vậy mà tui tưởng nó báo cho Dì biết rồi.
Chú quay sang giục dì Xinh:
- Phải cứu tỉnh bà chủ lại thôi!
Bà chủ Lụa tỉnh lại sau một lúc được xoa dầu. Vừa mở mắt ra bà gào lên:
- Không phải! Con tôi còn sống!
Bà giục tài xế:
- Chạy ngay lên cầu gì đó…
Chừng như Sáu Đời muốn đoái công nên mau mắn:
- Để con dẫn đường cho!
Cậu ta nhảy lên xe và chỉ đường:
- Chạy khoảng hai cây số thì tới. Cây cầu đó cái lan can tới bữa nay vẫn còn chưa sửa.
Chỉ vài phút sau thì xe chạy tới đầu cầu, rõ ràng lan can cầu còn dấu gãy do bị xe đụng. Sáu Đời nói thêm:
- Chiếc xe hình như vẫn còn kẹt dưới sông chưa được vớt lên. Chỉ có xác chị ấy thì bữa đó hình như người ta đưa vô nhà làng ờ đàng kia…
Bà chủ Lụa tức tốc đi về phía nhà làng. Vì còn trong giờ làm việc nên có mặt hầu như đủ ban hương chức hội tề. Khi nghe bà hỏi vụ việc đó, một người xưng là hương hào Mỹ nói liền:
- Do đương sự không đem theo giấy tờ tùy thân, nên chúng tôi căn cứ theo chiếc lắc đeo ở tay mà biết được tên là Lý Thị Thiên Hương. Đây, ông Hương sư Phẩm còn giữ lại chiếc lắc đó làm bằng. Mời bà gặp ông Hương sư.
Bà ta khỏi hỏi, bởi Hương sư Phẩm vừa bước ra, ông đã cầm sẵn chiếc lắc vàng đưa lên hỏi:
- Bà nhận ra vật này không?
Vừa trông thấy, bà Lụa đã kêu lên:
- Của nó đây mà!
Rồi sợ họ không tin, bà nói luôn:
- Chiếc này do chính tôi đặt làm cho con gái tôi đeo hồi nó mười hai tuổi tới giờ, nặng một lượng vàng y, do tiệm vàng Ngọc Hương làm.
Hương sư Phẩm gật gù:
- Đúng rồi. Vì sợ chôn theo xác bị người tham đào bới lấy trộm, nên tui tạm giữ giùm. Do không biết người chết ở đâu, nên lâu nay tui cũng có ý đợi hoài…
Bà Lụa chết điếng trong lòng, cố hỏi rõ:
- Có thật là xác của nó, một đứa con gái phải không?
- Do ngồi trong xe, khi tai nạn xảy ra do chấn động mạnh nên đầu cô ấy có va đập vào vô lăng, bị thương chớ phần khác của thân thể thì không. Lúc liệm đem chôn tui có nhìn rõ. Mồ mả hiện nay còn ở nghĩa địa làng ở gần đây, bà có thể ra đó thăm, rồi sau đó có nhu cầu thì chúng tôi sẽ giúp bốc mộ giùm.
Những lời nói sau của ông Hương sư hầu như bà chủ Lụa không còn nghe thấy gì. Bà lảo đảo… Ở tại nghĩa địa làng bà Lụa không tiện mở nắp quan tài ra nhìn, chớ thật ra bà chưa tin hẳn trong đó là con gái mình. Mãi đến khi quan tài chuyển về nhà, bà đã bàn với chồng:
- Phải nhờ cái chỗ gì đó của Tây, người ta gọi là… là… cái gì y y đó, để họ khám nghiệm xem sao.
Ông chủ Lụa nói:
- Đó là pháp y, nhưng mà cần gì tới họ. Nó chết do tai nạn xe, chớ có phải ai giết đâu mà nghi ngờ…
Bà tru tréo lên:
- Nhưng tui thì nghi ngờ. Chết sao mới rồi nó còn về nhà làm đám cưới?
Câu nói của vợ làm cho ông chủ Lụa giật mình! Ông lẩm bẩm:
- Ờ há, sao lại có chuyện đó?
Ông hồi nhớ lại và bỗng giật mình:
- Mà cũng có thể lắm! Hôm nó trở về nhà sau thời gian bỏ đi, chẳng biết là đi đâu, bà nhớ không, nó chẳng nói rằng gì với ai hết suốt mấy ngày liền, tánh tình cũng thay đổi nhiều… Cho đến khi bà thuyết phục được nó chịu làm đám cưới với thằng Tấn Đạt. Nó như là người mất hồn… Bà Lụa thì đang nhớ chuyện khác. Bà chưa quên cái cảm giác khi chạm vào thân thể con gái lúc chuẩn bị ngày cưới:
- Tui nhớ ra rồi, thịt da nó lúc ấy sao không có hơi ấm! Tui có hỏi thì nó chỉ lắc đầu không nói, lúc ấy tui cứ nghĩ do quá đau lòng nên nó như vậy. Đâu có ngờ…
- Bà ngờ điều gì? Phải chăng…
Họ lặng người đi, không ai dám nói ra điều mình đang nghĩ…
Cuối cùng quan tài cũng được mở ra, do những gia nhân của nhà chủ Lụa thực hiện. Xác chết trong áo quan đúng là Thiên Hương, bởi dù đã qua gần một tháng, nhưng vẫn còn có thể nhận diện được.
Lúc này nỗi đau trong họ còn có thêm nỗi sợ hãi nữa. Bà Lụa không dám nói lớn, như sợ có người nghe được:
- Như vậy nó là… hồn ma hay sao?
Ông Lụa thừ người ra khá lâu, rồi cũng run giọng nói:
- Nhà mình đến ngày cùng tận rồi hay sao mà xảy ra chuyện này! Tội của ai đây, hở trời!
Lại sắp có cuộc cãi nhau về chuyện ai có tội, thì chợt có đứa người làm chạy vào báo:
- Thưa ông bà, có người ở làng Tân Hội đem lễ vật qua xin ông bà cho… cưới cô Thiên Hương ạ!
Bà chủ Lụa tái mặt:
- Họ là ai?
- Dạ, không biết là ai, nhưng đi theo còn có cái người mà… mà trong đêm cưới đã khiến cho cô Thiên Hương nhận làm chồng đó!
Cả vợ chồng chủ Lụa điếng vía:
- Họ… họ… hả? Mời… mời họ vô!
Họ bước ra cửa thì đã gặp vợ chồng Hai Mộc và Lân bước vào. Họ cố diện quần áo tươm tất hơn, nhưng do nghèo, nên bộ cánh cũng không tỏ rõ được là đi hỏi vợ cho con. Ông Hai Mộc lên tiếng trước:
- Xin thưa với ông bà chủ. Hôm nay vợ chồng tui…
Ông nói chưa dứt lời thì Hai Lân đã chen ngang:
- Nói chi dài dòng ba, hôm nay theo lời dặn của Thiên Hương, tụi tui đem chút lễ vật qua để xin cưới…
Đang bực bội, bà chủ Lụa quát lớn:
- Cưới xin gì, mau cút đi!
Hai Lân hình như đoán biết trước tình hình, anh chàng vẫn bình tĩnh:
- Bớt nóng đi má, con làm theo lời Thiên Hương mà. Đây là những lễ vật mà má thách cưới với bên nhà thằng Tấn Đạt. Giá trị còn có phần hơn!
Anh ta giở cái hộp thiếc ra, ánh sáng chói lòa của những món nữ trang bằng kim cương, ngọc thạch làm lóa cả mắt người nhìn! Bà chủ Lụa líu cả lưỡi:
- Mày… mày có…
Hai Lân cười lớn:
- Nhằm nhò gì ba cái đó! Má cần thì tui còn nữa…
Đang phát hoảng vì những thứ trước mắt, nhưng chợt nhớ lại chuyện con gái, bà bật khóc nức nở, rồi chỉ tay về phía quan tài đang mở nắp:
- Mày tới mà coi, lấy cái xác của nó được thì lấy!
Hai Lân không tới xem, mà lại nói:
- Thiên Hương đang ở nhà con mà, cần gì xem!
Ông chủ Lụa không nhịn được nữa, lớn tiếng:
- Nó chết còn nằm kìa, lải nhải gì nữa!
Đến lượt chú Hai Mộc lên tiếng:
- Vậy hóa ra ông bà nói chúng tôi giết con dâu mình sao? Nó đang ở bên nhà, chờ chúng tôi đem lễ vật sang cho phải lẽ, rồi thì chính thức làm dâu. Xin ông bà nhận sính lễ cho…
Bà chủ Lụa gào lên:
- Cưới xin gì được với cái xác đó thì cưới đi!
Hai Lân lúc này mới bước tới gần quan tài nhìn rồi phá lên cười:
- Ba má quẫn trí rồi, xác gì đâu?
Câu nói của anh ta làm cho cả vợ chồng nghiệp chủ Lụa phải cùng chạy lại nhìn vào quan tài. Họ cùng kêu lên:
- Trời ơi!
Trong quan tài trống không! Ông chủ Lụa quay sang hỏi người nhà:
- Tụi bây đem nó đi đâu?
Mấy người đều rùng mình:
- Tụi con sợ gần chết, ai dám rớ tới!
Hai Lân nói tỉnh bơ:
- Tui đã nói rồi, Thiên Hương đang ở nhà tui mà!
Hai Mộc cũng nói:
- Hôm qua hai đứa nó dẫn nhau về, vợ chồng tui rối hết sức, nay phải qua để xin lỗi ông bà…
Hai Lân lớn tiếng:
- Không lỗi phải gì cả! Thiên Hương là vợ của con, nàng ấy về nhà với con là phải đạo lý, chớ sao lại lỗi phải ở đây! Còn lễ vật hôm nay là Thiên Hương muốn con đem về để cho cha mẹ đem trả lại cho nhà thằng Tấn Đạt!
Lúc ấy bà chủ Lụa nhìn kỹ lại thì đúng những nữ trang kia chính là sính lễ của bên đàng trai đem qua bữa trước, Bà nhìn sang chồng hội ý:
- Bây giờ làm sao?
Hai Lân lại nói:
- Thiên Hương nói nàng ấy không bao giờ về nhà nữa đâu. Ông bà có muốn thăm con thì qua bên đó mà thăm.
Ông chủ Lụa nói yếu xìu:
- Thử qua bên đó xem sao…
Vợ chồng họ đi theo Hai Lân mà lòng dạ hoang mang vô cùng. Họ không hiểu con gái mình mà Hai Lân nói đang ở bên nhà anh ta và cái xác trong quan tài ai mới là Thiên Hương? Họ vừa van vái cho con mình còn sống, nhưng nghĩ tới việc nó sẽ là vợ của một thằng không ra gì thì họ không đành lòng… Còn nếu đúng là Thiên Hương đã chết, thì còn thảm kịch nào hơn!
Trong tâm trạng bấn loạn đó, họ hầu như chẳng còn tỉnh táo, bởi vậy lúc bước vô căn nhà lá tồi tàn, họ không để ý cô con gái rượu của mình đang đứng đợi sẵn. Cho đến khi Thiên Hương lên tiếng:
- Ba, má!
Ngẩng lên nhìn, bà chủ Lụa reo lên trước:
- Con. Con tôi đây mà!
Rồi bà quay sang chồng:
- Ông ơi, con Thiên Hương còn đây, đâu có chết!
Ông chủ Lụa vẫn chưa tin là sự thật, hơi lắp bắp hỏi:
- Con… con thiệt đây sao Thiên Hương?
- Chẳng lẽ con là giả?
- Vậy còn… cái xác chết chìm cùng chiếc xe?
Nàng cười, nhỏ nhẹ đáp, thái độ hơi khác thường với một Thiên Hương đanh đá, nói ngang trước đây:
- Dạ, ba má và mọi người lầm rồi. Xác đó không phải, là của con. Hôm đó một người bạn mượn xe con lái rồi bị nạn, ai cũng tưởng là con.
Nhớ lại chiếc lắc đeo tay, bà hỏi:
- Vậy sao chiếc lắc của con lại ở trong tay người chết?
Thiên Hương ngạc nhiên:
- Chiếc lắc nào? Lắc của con còn trong tay con đây.
Nàng đưa tay lên, quả nhiên vẫn còn chiếc lắc vàng chính bà chủ Lụa sắm cho từ lâu! Bà chủ Lụa hốt hoảng đưa tay sờ vào túi áo mình, tìm chiếc lắc mà ông Hương sư đưa bữa qua, thì bà điếng hồn, bởi nó chẳng còn trong túi!
- Kỳ vậy? Mới đây…
Bà sờ khắp túi cũng không có, lòng hoang mang vô cùng. Vừa lúc đó thì nghe Thiên Hương nói:
- Ba má đã biết con ở đây rồi thì cứ yên tâm mà về. Để tránh tai tiếng và sự làm khó dễ của bên nhà Tấn Đạt, từ nay con sẽ không về thăm ba má.
Nói xong nàng ta quay bước đi vào trong. Ông chủ Lụa phát hiện điều lạ đầu tiên, ông nói khẽ với bà:
- Sao giọng nói của nó là lạ, bà có thấy không?
- Thì… có thể do nó khóc nhiều nên khan tiếng, đổi giọng. Mà thôi, nó còn sống là mừng rồi, để vài bữa nó bình tâm lại mình sẽ tính sau…
Hai Mộc mời:
- Đã tới đây rồi, dẫu nhà nghèo, vợ chồng tui cũng xin mời ông bà ly nước. Và cũng xin ý kiến ông bà về việc hôn nhân của tụi nó?
Bà chủ Lụa thở dài:
- Còn ý kiến ý cò gì nữa. Tụi tui có bắt về nó cũng không về. Vậy mấy người muốn làm sao đó thì làm.
Bà hỏi ông:
- Đi về chớ còn đứng đó làm gì!
Họ ra về rồi thím Hai Mộc mới lo lắng:
- Xem ra họ không vui. Mà tui cũng không hiểu, thằng Hai Lân nhà này ham chi vợ đẹp, vợ giàu, để cho rắc rối thêm!
Thiên Hương bước ra, nói tỉnh rụi:
- Rắc rối gì má lo. Rồi đây chính họ mới cần đến mình đó.
Những câu nói khó hiểu đó làm sao đôi vợ chồng nghèo, chất phác này hiểu được. Nên họ chỉ nhìn nhau rồi im lặng…
Trong khi đó vợ chồng chủ Lụa vừa về tới nhà đã vô cùng ngạc nhiên khi nhìn thấy chiếc xe hơi màu đen vốn là của Thiên Hương đang đậu trước sân!
- Xe của con Thiên Hương kìa ông?
Họ chạy lại nhìn vô xe và một lần nữa muốn đứng tim! Bởi ở băng sau xe có một xác người nằm dài trên đó!
- Cái xác… hồi nãy!
Thì ra đó chính là cái xác nằm trong quan tài mà người ta nói là của Thiên Hương.
- Nó biến mất lúc nãy, sao bây giờ ở đây?
Họ còn đang hoang mang thì bất chợt có đôi vợ chồng lạ từ ngoài cổng bước vào. Họ lên tiếng ngay:
- Xác đó là của con gái tôi!
Họ nhào tới ôm lấy xác con, khóc òa lên khiến cho vợ chồng nghiệp chủ Lụa ngơ ngác:
- Kỳ vậy?
Họ không ngại cái xác đã bốc mùi, cứ ôm nó mà gào khóc! Mãi sau đó người chồng mới bình tĩnh lại, nói:
- Con Hoa Lài, con gái tui được một người bạn gái, nghe nói là con của ông bà đây rủ đi chơi bằng xe hơi, để rồi cả tháng nay không thấy về. Tụi tui đã đi tìm kiếm khắp nơi mà không gặp, hôm qua nó về báo mộng là hãy qua đây mà nhận xác về, nên tui mới biết đây mà tới.
- Con ơi là con!
Nhìn họ khóc thảm thiết mà lòng dạ vợ chồng chủ Lụa đau theo. Họ muốn lên tiếng an ủi, nhưng sợ nói ra rồi họ đi tìm Thiên Hương sẽ lôi thôi ra, nên đành nín thinh. Lát sau bà chủ Lụa nói cho qua chuyện:
- Con gái tụi tui cũng chưa thấy về… không biết nó sống chết ra sao?
Bà cũng cố gắng khóc theo, y như thật. Có lẽ do đồng cảnh ngộ với nhau, nên vợ chồng người kia cũng không khó dễ gì, họ được nhận xác con là an lòng, nên vội mướn ghe chở xác về ngay. Còn lại hai vợ chồng, ông chủ Lụa bàn:
- Tui tính như vầy, dẫu sao thì bây giờ con Thiên Hương cũng yên phận bên đó rồi. Mà tánh khí nó bà biết rồi, nếu ép nó lần nữa thì chẳng biết chuyện gì sẽ xảy ra. Mà như thế cũng ổn, bởi nó mà trở về đây thì dám bên đàng trai đâu để mình yên!
Nhìn thấy chiếc xe hơi còn đậu trước sân, ông chủ Lụa bất nhẫn nói giọng rầu rầu:
- Bây giờ nhìn chiếc xe này tui lại thấy sợ. Xe mà đã lọt xuống sông rồi thì không nên để, hay là bán đi.
Bà thì tính khác:
- Tui tính đưa qua cho con Hương có đi đâu thì đi. Mà nè ông, tui thắc mắc nãy giờ, chẳng hiểu sao chiếc xe đang ở dưới sông tận đó, mà đột nhiên lại nằm ở đây là sao?
- Thì… thì có thể bên đó ai người ta vớt lên giùm rồi đem qua đây cho mình.
Ông gọi mấy đứa gia nhân hỏi:
- Hồi nãy tao đi vắng, có ai tới giao chiếc xe này không?
Mấy gia nhân đều lắc đầu:
- Dạ không có ai hết. Tụi con đang ở nhà sau, khi bước ra thì giựt mình thấy chiếc xe đậu sẵn rồi!
- Không thể như vậy được…
Bà Lụa ra nhìn kỹ chiếc xe, nó còn nguyên vẹn, không có bất cứ dấu vết nào của sự va chạm, nhất là khi bị rơi từ trên cầu xuống sông và nằm dưới đó cả tháng qua…
- Lạ quá ông ạ…
Ông chủ Lụa vốn người không thích suy nghĩ rắc rối, nên nói lảng sang chuyện khác:
- Con mình nó sống là may rồi. Còn mọi chuyện cho qua đi.
Bà gọi con Mẫn, đứa tớ gái thân tín của Thiên Hương và dặn:
- Mày lên phòng cô Hương, lấy hết quần áo của cô cho vô va-ly lớn, sau đó đem qua nhà của Hai Mộc ở xóm Chùa bên xã gần mình đây, nói là gởi cho cô Thiên Hương. Gởi xong thì về ngay, đừng hỏi han lôi thôi gì nữa.
Mẫn nghe lời chạy lên, và ngay lập tức trở xuống báo:
- Dạ, phòng cô Hai không còn bất cứ món gì hết. Ai dọn sạch cả rồi!
Quá đỗi ngạc nhiên, đích thân bà chủ Lụa chạy lên xem và ngẩng người ra, bởi hầu như những thứ thiết yếu đều đã không còn.
- Ở nhà có ai vô dọn đi không?
- Dạ không, tụi con ở nhà không hề mở cửa cho ai vô hết thì làm sao dọn được!
Lại một chuyện mà bà không tài nào hiểu nổi. Bà nhớ lúc nãy ở bên nhà Hai Lân, bà đã nhìn thấy Thiên Hương mặc bộ đồ mát vốn là thứ cô chỉ để riêng trong phòng, khi về nhà mới mặc, mà bữa chạy đi cô nào có đem theo bộ đồ đó?
Lưỡng lự một lúc, sau đó bà bước hẳn vào phòng. Xem xét lại những vật dụng, bà bất ngờ phát hiện ở bàn phấn của Thiên Hương có một chiếc lắc vàng rất lạ, cầm lên xem bà giật mình khi thấy có khắc tên hai chữ rất đẹp: Hoa Lài!
Dằn bên dưới chiếc lắc đó là một mảnh giấy với chữ viết mà bà Lụa nhận ra ngay đó là nét chữ của Thiên Hương: “Sinh ra thì xác hồn đều của cha mẹ, nay thác, xác phải mượn hồn kẻ khác! Con xin đắc tội…”
Bà chủ Lụa chợt hiểu, bà không thốt được lời nào, ngã quỵ và ngất đi…
Thiên Hương quỳ trước mặt cha mẹ chồng, giọng chân thành:
- Con xin ba má hãy giúp cho chuyện này. Số là con và anh Hai Lân có duyên số từ kiếp trước, nhưng do hoàn cảnh không gặp được nhau sớm. Cho đến khi anh ấy đi lang thang nhậu nhẹt với bạn bè rồi nằm ngủ ở nghĩa địa cách đây gần một tháng, mới tình cờ gặp con. Lúc ấy con đã thành người cõi âm sau tai nạn lọt xe xuống nước, hồn phách con đang vô định thì hai đứa gặp nhau và hiểu rằng đã là số kiếp, duyên số thì không làm sao xa rời được nhau. Tuy nhiên, do lúc ấy con đã bị chết rồi, nên dẫu cõi âm có thương tình, muốn tác hợp cũng không còn kịp nữa. Cũng may, đúng khi ấy người bạn tên Hoa Lài của con đi cùng xe cũng cùng chết mà số cô ấy lại chưa tới lúc phải chết, nên phán quan liền cho hồn cô ấy nhập vào xác của con để sống lại, hầu làm trọn duyên phận với anh Lân. Đó là sự thật, xin ba má nghe rồi đừng nói lại với ai, cứ để tụi con sống mà phụng dưỡng cha mẹ.
Bà Hai lo sợ:
- Như vậy lỡ ông bà chủ hỏi tội thì tui biết nói sao?
Thiên Hương quả quyết:
- Má đừng lo, họ sẽ chẳng bao giờ dám lôi thôi nữa. Vả lại, bây giờ con chỉ còn mang cái xác của con gái họ, chứ phần hồn thì là của Hoa Lài rồi. Chuyện bây giờ con muốn nhờ là ba má hãy sang nhà ba má của Hoa Lài, làm con…
Cô đưa cho cha mẹ chồng số tiền khá lớn:
- Ba má đưa giùm họ, nói tiền này là của một người có hàm ơn với Hoa Lài, muốn tặng để họ dưỡng già, bù lại chuyện họ mất đứa con…
Vợ chồng Hai Mộc ngập ngừng không muốn nhận, bởi xưa nay họ không quen nói dối, vả lại mang theo bên mình số tiến lớn họ đâm sợ… nhưng cuối cùng do Thiên Hương quá khẩn thiết nên họ phải làm theo.
Khi họ tìm được nhà của cha mẹ Hoa Lài thì vô cùng ngạc nhiên khi có một cô con gái khá đẹp đang ngồi trong nhà. Thím Hai lên tiếng hỏi:
- Đây có phải là nhà của ba má cô Hoa Lài?
Cô gái cười tươi, lên tiếng đáp:
- Dạ, con là Hoa Lài đây!
Câu nói khiến thím Hai muốn té xỉu! Thím lui nửa bước, nhìn vào cô gái:
- Cô nói lại coi? Cô là…
Vừa khi ấy hai ông bà chủ nhà bước ra, họ đã nghe câu hỏi và trả lời, nên người mẹ lên tiếng ngay:
- Con tui nói đúng, nó chính là Hoa Lài, đứa mà đáng lẽ đã chết cùng với Thiên Hương con ông bà chủ Lụa!
Bà ngừng kể, nhìn sang con gái như đợi sự đồng ý của nó. Hoa Lài gật đầu:
- Má cứ nói đi. Bây giờ chị con dâu của hai bác đây cũng đã nói ra rồi, đâu cần giấu nữa làm gì.
Bà mẹ cô mới tiếp tục:
- Không riêng gì hồn của con tôi được cõi âm cho sống lại nhập vào xác cô Thlên Hương, bởi họ thấu hiểu nỗi đau của cha mẹ có con bị chết oan, mà hồn của cô Thiên Hương cũng đã được nhập vào xác con Hoa Lài đây nè!
Rồi bà nói thêm:
- Dẫu xác là con mình mà hồn là của người khác, nhưng dẫu sao mình cũng cứ nhận nó là con, bởi tui biết chắc con Hoa Lài cũng đang còn sống. Khi sống tụi nó là bạn của nhau, khi chết dùng xác hồn trao đổi nhau là chuyện bình thường.
Thấy bà ta nói như chẳng có chuyện gì, vợ chồng Hai Mộc cũng không biết nói gì thêm, đành đưa số tiền cho họ rồi kiếu ra về. Nhưng họ thẳng thừng từ chối:
- Tụi tui sống đạm bạc quen rồi, đâu cần nhiều tiền làm gì. Tuy nhiên…
Bà nói tới đó chợt nhớ hồn của Hoa Lài bây giờ không có trong xác nó, mà là của cô gái con nhà giàu, nên bà ngập ngừng hỏi:
- Ý con sao?
Hoa Lài xua tay:
- Con bây giờ khác rồi, tuy vẫn là hồn của con gái nhà nghiệp chủ Lụa, nhưng đang sống trong nhà ba má Hoa Lài, thì con phải là… Hoa Lài chớ! Con đâu cần giàu…
Hai Mộc chen vô nói:
- Nhưng tiền này con dâu tui nói là để anh chị dưỡng già…
Hai ông bà cười, chỉ vào Hoa Lài:
- Có đứa con gái này là tụi tui đủ sức sống tới trăm tuổi rồi!
Họ đãi khách một bữa cơm thịnh soạn, sau đó Hoa Lài gọi vợ chồng Hai Mộc ra dặn riêng:
- Hai bác biết chuyện này là để bụng, đừng bao giờ nói lại với bên nhà cha mẹ con. Bởi cho tới giờ này họ vẫn nghĩ con là Thiên Hương còn sống như con dâu hai bác. Mọi việc rồi sẽ qua đi…
Giữ đúng lời, vợ chồng Hai Mộc không hé răng với ai. Mọi sự cứ bình thản trôi qua…
Duy có một điều làm cho nhiều người ngạc nhiên là chẳng hiểu sao từ ngày lấy vợ tự dưng Hai Lân đâm ra thông minh, linh hoạt hẳn. Anh chàng vốn trước đây không chịu học, bây giờ siêng năng đèn sách và vài năm sau đó bất ngờ trở thành người hay chữ nhất vùng. Đặc biệt là ngoài chữ nghĩa giỏi giang ra, Hai Lân còn có biệt tài chữa bệnh! Anh trị bệnh không lấy tiền, chữa được cả những bệnh nan y, khiến danh tiếng được đồn xa, nhiều người nể trọng.
Nếu có ai nghĩ rằng bao nhiêu tài năng của Hai Lân đều do hưởng được từ vợ thì cũng không sai…